Archive for Tháng Mười, 2016

“Nghi án” tranh Bùi Xuân Phái 2,3 tỉ đồng là giả

 

TTO – Việc bức tranh Phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái được đấu giá 102.000 USD trong một buổi gây quỹ từ thiện hôm 22-10 bị “tố” là tranh giả khiến dư luận thêm một phen sững sờ.

phocohanoi_buixuanphai

 

Được giới thiệu là “kiệt tác” của Bùi Xuân Phái, bức tranh Phố cổ Hà Nội khổ 55x72cm bán được 102.000 USD (gần 2,3 tỉ đồng), cao nhất buổi đấu giá tranh từ thiện diễn ra đêm 22-10 tại GEM Center (TP.HCM).

Tuy nhiên, họa sĩ Bùi Thanh Phương – con trai của danh họa Bùi Xuân Phái – lên tiếng “tố” đó không phải là tranh của cha ông.

Họa sĩ Bùi Thanh Phương cho hay cha ông chưa từng vẽ bức tranh nào như thế và khẳng định bức tranh không phải tranh nhái mà hoàn toàn là một bức được người khác vẽ giả tranh của cha ông.

Không thấy Phái trong tranh Bùi Xuân Phái

Khi được hỏi có khả năng đó là một bức tranh của Bùi Xuân Phái thuộc một nhà sưu tập khác mà ông chưa từng biết hay không, họa sĩ Bùi Thanh Phương khẳng định:

“Thật ra giới sưu tập trong nước hiện nay cỡ từ năm đến sáu người thôi. Ai giữ bức tranh nổi tiếng của danh họa nào, tất thảy đều được ghi vào trong trí nhớ. Cho nên tôi khẳng định là không có sự “xuất hiện bất ngờ” nào cho một bức tranh của cha tôi như vậy!”.

Chúng tôi liên hệ với ông Bùi Quốc Chí, chủ gallery Đức Minh, ông khẳng định một lần nữa rằng chính ông sở hữu bức tranh, đúng như thông tin đưa ra trước buổi đấu giá.

Khi đặt vấn đề về dư luận cho rằng đó là bức tranh Bùi Xuân Phái giả, ông Chí chỉ trả lời ngắn gọn:

“Tôi tôn trọng những ý kiến được đưa ra xung quanh bức tranh. Nhưng tôi khẳng định một điều rằng đó là bức tranh thật, tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn với ban tổ chức buổi đấu giá về điều đó!”.

Trong khi người nhà và người sở hữu tranh Bùi Xuân Phái còn tranh cãi về nguồn gốc bức tranh, thì các họa sĩ cũng “vào cuộc” phân tích với đầy nỗi nghi ngờ.

Họa sĩ Nguyễn Thanh Bình bày tỏ quan điểm trên trang cá nhân:

“Không cần anh Bùi Thanh Phương lên tiếng, những ai trong nghề lâu năm đều thấy nó là giả. Dễ thấy nhất là các nét contour (đường viền quanh hình) của Phái không bao giờ đều đặn, thẳng thớm như thế. Người nhái bức tranh này hoàn toàn không hiểu tình cảm và bút pháp của Phái khi vẽ những mái nhà “xiêu vẹo”.

Cái xiêu vẹo, lô xô của Phái là ngẫu hứng có chủ ý, bằng tay nghề điêu luyện, đường contour của bác dày dặn và tình cảm. Nét vẽ tình cảm không “tô”, không “kẻ”… Nó “đi” một cách tự nhiên, “luyến láy” tự nhiên nhưng có chủ đích.

Hơn nữa, “…mái ngói thâm nâu…” của phố cổ Hà Nội in sâu trong tâm hồn người Hà Nội, nó là màu thời gian đi theo người nghệ sĩ, vì vậy nó không phải là màu nâu đỏ (như trong bức tranh).

Người nhái bức tranh này chẳng những không có tình cảm gì với Hà Nội mà còn không hiểu gì về bút pháp của nghệ sĩ”!

Ý kiến của họa sĩ Nguyễn Thanh Bình nhận được nhiều sự chia sẻ của giới chuyên môn, khi cảm giác chung của họ là không “tìm thấy” Phái trong bức tranh được giới thiệu là của Bùi Xuân Phái này.

Và bởi lẽ, từ trước đến nay không tên tuổi họa sĩ nào bị mượn cho những bức tranh giả, tranh nhái nhiều hơn họa sĩ Bùi Xuân Phái. Thậm chí, trong giới còn truyền nhau câu nói vui là: “Khi chết, ông Phái còn “vẽ” nhiều hơn lúc ông sống!”.

Cẩn trọng thẩm định tranh trước khi đấu giá

Thẩm định để đấu giá tranh của một danh họa như Bùi Xuân Phái cần phải làm hết sức cẩn trọng. Nhà báo Nguyễn Trọng Chức – trưởng ban lý luận phê bình Hội Mỹ thuật TP.HCM – chia sẻ:

“Bất cứ cuộc đấu giá tranh nào, nếu họa sĩ không còn sống, hoặc hơn nữa là tranh “có vấn đề” như họa sĩ Bùi Xuân Phái… thì việc xét duyệt tranh phải hết sức cẩn trọng.

Nếu chưa lập được hội đồng chuyên môn thẩm định vẫn có thể mời đội ngũ tư vấn như người nhà của họa sĩ quá cố, các họa sĩ am hiểu.

Ai cũng biết tranh Bùi Xuân Phái ở nước ngoài bị rớt giá thê thảm vì những xìcăngđan tranh giả, đến nỗi các sàn đấu giá “cạch mặt”, không đụng tới.

Cho nên, tôi cho rằng ở bất cứ cuộc đấu giá nào thì các ban tổ chức phải hết sức cẩn trọng trong khâu thẩm định tranh”.

Thiết nghĩ, với những ồn ào đang xảy ra, đây phải là một kinh nghiệm cho những đợt đấu giá tranh sau này. Với nền mỹ thuật Việt Nam, dư chấn của cuộc triển lãm “bộ sưu tập” tranh giả của các danh họa hồi tháng 6 ở Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM vẫn còn.

Giờ đây, đến lượt một bức tranh của Bùi Xuân Phái được công khai đưa vào một cuộc đấu giá từ thiện tiếp tục bị đặt vào “nghi án” tranh giả.

Không phải bảng hòa sắc của bậc thầy

Họa sĩ Đỗ Phấn cho rằng bức tranh  Phố cổ Hà Nội được cho là của Bùi Xuân Phái đấu giá thành công mức gần 2,3 tỉ đồng lộ ra những điểm nghi vấn sau:

– Về mặt hình họa, cấu trúc phố cổ đương nhiên không chỉ là quan sát đơn thuần của một người qua đường. Với ông Phái, người sống và vẽ suốt đời trong những con phố cổ ấy đã thuộc nằm lòng cấu trúc của từng ngôi nhà, mặt phố.

Cao hơn một bậc, ông chủ động vẽ nên hình dáng của phố bằng cảm xúc chân thật của mình để tạo ra nét rất riêng biệt. Với hình vẽ trong tranh là một con phố có đường chân tường thẳng đuột chạy ngang tranh.

Điều này dù được lấp liếm bằng những nhát trát màu rất Bùi Xuân Phái nhưng đã lộ ra một quan sát nông cạn hời hợt, chẳng Phái tí nào.

Nắm được cấu trúc một ngôi nhà phố cổ sẽ không một ai thể hiện rất mập mờ những mái vẩy (vải hay tôn?) bên dưới mái ngói. Ông Phái lại càng không.

Có vẻ như người vẽ giả bức tranh này còn không đọc ra nổi những mái vẩy do ông Phái vẽ. Họ vẫn tưởng đó là trán ngôi nhà cổ. Và vẽ nó liên kết với bức tường đứng bên dưới như vậy.

– Về hòa sắc, thoạt trông có vẻ như đây chính là bảng hòa sắc quen thuộc của ông Phái. Nhưng không phải. Màu xám trầm tràn lan không chuyển sắc độ, rất nghèo nàn, không bao giờ là hòa sắc của một bậc thầy.

Những vết hoen trên đầu hồi nhà chứng tỏ một tay nghề vụng, rụt rè khi chép lại tranh ông Phái. Phần mái ngói có màu đỏ tươi như vậy cũng không phải quan niệm của ông Phái về màu sắc. 

 

Bán đấu giá tranh Việt Nam

Posted: Tháng Mười 23, 2016 in Hội họa, Trang Chủ
Bán đấu giá tranh gây quỹ từ thiện cứu trợ

 

 Vào lúc 19h45 ngày 22/10 tại Gem Center (TP.HCM) đã diễn ra phiên đấu giá nghệ thuật “Thiện Nhân và những người bạn”.

Tranh Bùi Xuân Phái và những tác phẩm tiền tỷ tại phiên đấu giá hiếm hoi.

Phiên đấu giá này do Quỹ Sống để yêu thương Việt Nam (Live To Love Việt Nam) tổ chức, nhằm tìm kiếm kinh phí cho Quỹ Thiện Nhân trong việc phẫu thuật dị tật đường tiểu cho trẻ em.

Kết quả, 100% tác phẩm được bán, theo tổng kết sơ bộ, chương trình đã nhận về 223.600 USD từ đấu giá 13 tác phẩm nghệ thuật. Bên cạnh đó, nhiều nhà hảo tâm đã ủng hộ cho Quỹ Thiện Nhân số tiền đàng kể.

Kết quả đấu giá như sau:

Cao giá nhất phiên đấu thuộc về kiệt tác “Phố cổ Hà Nội” của danh họa Bùi Xuân Phái.

phocohanoi_buixuanphai
“Phố cổ Hà Nội” của Bùi Xuân Phái

Tác phẩm: “Phố cổ Hà Nội”
Tác giả: Bùi Xuân Phái
Chất liệu: Sơn dầu trên bố
Kích thước (cao x rộng): 55 cm x 72 cm
Giai đoạn sáng tác: Khoảng 1968 – 1972
Giá khởi điểm: 77.000 USD. KẾT QUẢ ĐẤU: 102.000 USD

Xếp thứ 3 về giá bán là tranh của Lê Kinh Tài.

toidieugio_lekinhtai
“Tôi – diều gió” của Lê Kinh Tài

Tác phẩm: “Tôi – diều gió”
Tác giả: Lê Kinh Tài
Chất liệu: sơn dầu, heavy acrylic trên bố
Kích thước: 150 cm x 180cm
Năm sáng tác: 2009
Giá khởi điểm: 60.000 USD. KẾT QUẢ ĐẤU: 80.000 USD

Nhưng những bức kịch tính là tranh của thi sĩ Bùi Giáng, tăng giá gấp 10 lần, với cả chục người muốn sở hữu.

guidem_buigiang
“Gửi đêm” của thi sĩ Bùi Giáng

Tác phẩm: “Gửi đêm”
Tác giả: Bùi Giáng
Chất liệu: mực tàu và gouache color trên giấy
Kích thước: 42 cm x 31,5 cm
Năm sáng tác: 1992
Giá khởi điểm: 2.500 USD. KẾT QUẢ ĐẤU: 27.000 USD

Thi sĩ cuồng điên Bùi Giáng để lại một dấu ấn lớn với lịch sử thơ ca và tư tưởng Việt Nam thế kỷ 20. Ông là mẫu người của tự học, về ngoại ngữ, ông có thể đọc và dịch các thứ tiếng như Đức, Pháp, Anh… và cả chữ Hán. Trước tác, dịch thuật và di cảo của ông để lại hơn 100 đầu sách, hiện này vẫn liên tục được tái bản.

Sinh thời Bùi Giáng vẽ khá nhiều, lên đến hàng trăm bức, nhưng do nhiều người nghĩ ông “điên vẽ bậy” và tâm hồn lạc điệu khi cảm nhận nên ít người lưu giữ lại. Riêng họa sĩ Phạm Cung (sinh 1932) thì lưu giữ hơn 20 bức, vẽ trong khoảng 1982 đến 1994, do giai đoạn này Bùi Giáng hay lui tới xưởng vẽ chơi. Có vẻ như Bùi Giáng làm gì cũng dễ dàng, nhưng chưa bao giờ dễ dãi, tranh của ông cũng vậy, vẽ như chơi, nhưng đủ đầy về bố cục, hòa sắc và ý tưởng.

Riêng với những ai yêu thích nghệ thuật, đang muốn mở lối đi mới cho bộ sưu tập của mình, thì Bùi Giáng là một chọn lựa “khó đụng hàng”. Thế nhưng, điều khó khăn duy nhất là trên thị trường hiện nay tranh Bùi Giáng còn lại quá ít, chỉ vài chục bức, mà không phải lúc nào chủ nhân của nó cũng hào phóng… “buông tay”.

sonnu_daoxuantinh
“Sơn nữ” của Đào Xuân Tình
Tác phẩm: “Sơn nữ”
Tác giả: Đào Xuân Tình
Chất liệu: sơn dầu trên bố
Kích thước: 120 cm x 90 cm
Năm sáng tác: 2016
Giá khởi điểm: 1.500 USD. KẾT QUẢ ĐẤU: 15.000 USD. Tăng giá gấp 10 lần

Nhưng kịch tính nhất là Tượng Phật Dược Sư, tăng giá khoảng 15 lần.

tuongphat
“Tượng Phật Dược Sư”

Đề mục: “Tượng Phật Dược Sư”
Chất liệu: Lưu ly và vàng 24K
Kích thước: 20cm x 14 cm x 9 cm
Giá khởi điểm: 5.000 USD. KẾT QUẢ ĐẤU: 86.000 USD

Đây là chưa kể một vị khách nhường bước cho người về nhất, đã tặng cho chương trình số tiền bằng nửa giá đấu là 43.000 USD.

Các kết quả khác:

cuasotrochuyen_dinhthithampoong
“Cửa sổ và trò chuyện” của Đinh Thị Thắm Poong
Tác phẩm: “Cửa sổ và trò chuyện”
Tác giả: Đinh Thị Thắm Poong
Chất liệu: Màu nước, vàng giả trên giấy dó
Kích thước: 110 cm x 80 cm
Năm sáng tác: 2008
Giá khởi điểm: 6.000 USD. KẾT QUẢ ĐẤU: 10.000 USD

tronghosen_nguyenthichaugiang
“Trong hồ sen” của Nguyễn Thị Châu Giang
Tác phẩm: “Trong hồ sen”
Tác giả: Nguyễn Thị Châu Giang
Chất liệu: lụa
Kích thước: 100 cm x 80 cm
Năm sáng tác: 2011
Giá khởi điểm: 2.500 USD. KẾT QUẢ ĐẤU: 4.000 USD

tinhque_limkhimkaty
“Tình quê” của Lim Khim Katy
Tác phẩm: “Tình quê”
Tác giả: Lim Khim Katy
Chất liệu: sơn dầu trên bố
Kích thước: 90 cm x 100 cm
Năm sáng tác: 2015
Giá khởi điểm: 2.000 USD. KẾT QUẢ ĐẤU: 6.000 USD

vuonxuan_nguyenvanduc
“Vườn Xuân” của Nguyễn Văn Đức
Tác phẩm: “Vườn Xuân” (thuộc loạt tranh tranh phong cảnh Hà Giang)
Tác giả: Nguyễn Văn Đức
Chất liệu: sơn dầu trên bố
Kích thước: 175cm x 135 cm
Năm sáng tác: 2016
Giá khởi điểm: 2.500 USD. KẾT QUẢ ĐẤU: 8.500 USD

bongdai_lehao
“Bông dại” của Lê Hào

Tác phẩm: “Bông dại”
Tác giả: Lê Hào
Chất liệu: sơn dầu trên bố
Kích thước: 120 cm x 80 cm
Năm sáng tác: 2015
Giá khởi điểm: 4.000 USD. KẾT QUẢ ĐẤU: 4.500 USD

dinh_nguyenngocvu
“Định” của Nguyễn Ngọc Vũ
Tác phẩm: “Định”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Vũ
Chất liệu: cắt giấy, màu acrylic và mica
Kích thước: 50 cm x 50 cm
Năm sáng tác: 2016
Giá khởi điểm: 1.700 USD. KẾT QUẢ ĐẤU: 2.500 USD

Thái Tuấn, người hoạ sĩ của những khoảng trống

2

Họa sĩ Thái tuấn

 

Tháng chín, trăng thu về vằng vặc, đẹp trội, sáng hơn bao giờ, soi rọi tâm tư hoài nhớ của những người tương tư cố hương. Tháng chín năm nay cũng là năm giỗ thứ 8 của hoạ sĩ Thái Tuấn, người được xem là một trong những tay cọ đã tạo nên một dấu mốc quan trọng đối với sinh hoạt hội họa ở Miền Nam Việt Nam. Người mà nhà phê bình hội hoạ Huỳnh Hữu Ủy gọi là “một bóng dáng lớn của nền nghệ thuật Việt Nam”.  Vào những năm sau khi hiệp định Genève chia cắt đất nước làm hai miền được ký kết, văn học nghệ thuật miền Bắc bắt đầu chịu sự chi phối và định hướng của nhà cầm quyền.  Mọi sáng tác, nghệ thuật đều bị đặt vào khuôn phép và kiểm soát với mục đích chính trị phục vụ chủ nghĩa xã hội, khiến những sản phẩm tinh thần được tạo ra trở nên nghèo nàn, đơn điệu, đồng dạng, đến buồn thảm. Trong khi ở miền nam, nhờ không khí tự do và sự khát khao đổi mới, sinh hoạt văn học nghệ thuật rực lửa hơn bao giờ hết. Bộ ba Thái Tuấn, Duy Thanh và Ngọc Dũng đã xuất hiện như một luồng gió mới của ý thức tự do sáng tạo, thổi và góp phần thành tựu cho nền mỹ thuật hiện đại Miền Nam. Vào những thập niên 60-70, nhóm Sáng Tạo và Hội Hoạ Sĩ Trẻ Việt Nam ra đời.

 

pic1chandung-tu-hoa  

Chân dung tự hoạ, 1960(Sáng Tạo bộ mới, Sài Gòn)

 

Tên thật của Thái Tuấn là Nguyễn sinh Công. Sinh 1918 tại Hà nội. Theo học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương, rồi bỏ dở. Sau hiệp định Genève 1954, ông cùng gia đình vượt tuyến vào Nam, sống bằng nghề vẽ quảng cáo vào những năm 1955- 1956. Triển lãm đầu tiên của ông vào 1958 ở Pháp văn đồng minh hội, gồm 40 họa phẩm sơn dầu. Những bức tranh như, Người Thiếu Phụ Cầm Quạt, Lễ Phục, Thôn Nữ, Người Phu Trạm…được nhắc nhở nhiều đến trong cuộc triển lãm như một đặc trưng của nỗi lòng tư hương. Sau này trong hầu hết những tác phẩm khác, ý niệm hoài hương vẫn bàng bạc trong tranh ông, từ Bắc vào Nam, từ Việt qua Pháp. Ngoài việc vẽ tranh, Thái tuấn còn là một nhà nhận định và phê bình mỹ thuật xuất sắc nhất Sài Gòn thời đó. Ông thường có mặt trong các Hội đồng giám khảo mỹ thuật quốc gia. Và dĩ nhiên lá phiếu của ông có tầm rất quan trọng cho các tài năng mới như Nguyễn Trung, Nghiêu Ðề, Nguyễn Phước, Ðinh Cường, Cù Nguyễn, Lâm Triết, Trịnh Cung… Triển lãm sau cùng của ông được tổ chức ở phòng tranh Tự do tại Sài Gòn. Ông ra đi vào ngày 26 tháng 9 năm 2007, tại chính căn nhà, nơi ông từng bắt đầu sống những ngày đầu tiên ở Sài Gòn sau cuộc di cư năm 1954.

Tháng chín, đêm xuống, gió nhớ ai, mà vườn sau, ngát hương chanh, hương bưởi. Trăng giữa mùa động tình ôm trọn bờ ngực xanh của những trái đồi xao xác đám lá uá rụng đêm. Hữu tình làm sao, người hoạ sĩ năm nào lại chọn đúng tiết thu, trăng sáng mà ra đi nhỉ? Nàng Hằng trên cao, như rực rỡ cười, chào đón người hoạ sĩ đi về chốn thâm trầm, tịnh mặc, xa cuộc đời xao động. Hay nàng vừa xuống trần gian mà lung linh bước vào tranh Thái Tuấn như những ngày tháng cũ? Phải nói là những người thiếu nữ trong tranh Thái Tuấn có một nét u mặc, mơ huyền, dịu dàng, đằm thắm, vừa xa vắng, mông lung, vừa như ẩn như hiện tựa vầng trăng.

Sống trong thời đại kỹ thuật cao với khối óc người thưởng ngoạn mở rộng nhờ liên mạng và máy vi tính ngày nay, có lẽ hơi khó cho chúng ta trở về thời điểm năm mươi mấy năm xưa để sống cái không gian mà những người hoạ sĩ tiền phong Thái Tuấn đã sống. Xem tranh Siêu thực của Salvador Dali, Frida Kahlo hiện đại, chúng ta nhớ tới cội nguồn tranh biểu hiện Cezanne, Van Gogh. Xem tranh của Thái Tuấn để hay, để biết về một cột mốc quá khứ của mỹ thuật Việt Nam ngày xưa cũng là một nhắc nhớ rất gợi hình. Đặc biệt là tranh thiếu nữ của ông.

 

pic2-khan-quang

Khăn Quàng, Sơn Dầu, 1992

Hầu như tất cả các nam hoạ sĩ, ai cũng có tranh vẽ thiếu nữ. Thái Tuấn không ngoại lệ. Người phụ nữ Việt Nam đặc trưng có mặt trong tranh ông, lại nhiều hơn bao giờ hết. Họ thường xuất hiện trực diện, một mình, với một vài nét phác, đôi mắt, cái miệng, mái tóc và phần lớn không gian còn lại chừa cho màu sắc và tà áo cùng dáng dấp làm chủ. Ông chuộng màu xanh(yên bình, trang nghiêm), xám(tĩnh lặng, ôn hoà), và những màu buồn, như trong bức này.  Người thiếu nữ mặc áo dài đứng trước gió(chân dung Khánh Ly), màu xám của lá và màu xanh của nền tranh làm nổi bật màu trắng tinh khiết(gợi sự quyền uy) của chiếc áo và viền sọc đen của chiếc khăn quàng. Có vẻ như Thái Tuấn thích khăn quàng, tôi bắt gặp khăn quàng hiện diện trong tranh ông, ít nhất là 9,10 bức. Chiếc khăn quàng bằng lụa hay len là một vật làm dáng rất được ưa chuộng ở phương Tây được du nhập vào Việt Nam. Trong nghệ thuật tạo hình, nó cũng là biểu tượng của sự thanh lịch, trữ tình và nhất là sự linh động khi bay. Khí lạnh của Hà Nội, Thanh Hoá, Orléans (Pháp), trong những nơi ông đã sống qua cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tranh ông. Sự giao duyên văn hoá giữa Âu và Á thể hiện đều đặn như nét đẹp và buồn lãng mạn(Romanticism) phảng phất đâu đó trong tranh biểu hiện(expressionism) của ông. Ông đã cô đọng hết tinh túy Á Đông vào hội hoạ Tây Phương để hình thành một phong cách riêng và trung thành với một lối vẽ trong suốt một đời cầm cọ, cho tới khi nhắm mắt.

 

Thieu Nu

 Thiếu nữ, 1992

 

Em tôi đi
Màu son lên đôi môi
Khăn san bay
Lả lơi trên hai vai.                                                                                                           

Gởi người em gái/Đoàn Chuẩn-Từ Linh

 

Chiếc khăn san trắng buông hờ, quàng nhẹ bên vai ngiêng đã tạo nên một dáng ngồi khoe duyên trong tà áo dài vàng nổi bật trên nền xanh của tranh vẽ. Tranh ông giản dị, người phụ nữ của ông kín đáo, đơn sơ nhưng sang cả, thùy mị, đoan trang và sâu sắc. Cô gái Hà Thành một thời, mặc áo dài, vai quàng khăn san, tóc vén mai cặp buông lơi sau lưng, dáng mảnh mai trong mưa xuân đã là giấc mơ của nhiều chàng trai Hà Thành hào hoa năm xưa. Ông đã thể hiện giấc mơ và những nét rất duyên của người con gái đất ngàn năm văn vật ngày còn vang bóng. Ông cắt nghĩa cho lối hoạ thiếu nữ của mình “Tôi chủ trương ít màu, ít nét. Khoảng trống bao la. Ðể nhờ chiếc áo dài tuyệt đẹp nói hộ sự đoan trang về tâm hồn sự sâu sắc nên thơ của mọi người nữ Việt Nam. Chiếc áo dài của ta, lạ lắm. Khi người đàn bà mặc vào, lúc đi lúc đứng lúc ngồi, nằm, mọi đường nét của chiếc áo chuyển động tạo nên những đường nét khác nhau vô cùng duyên dáng. Chẳng cần phải vẽ thêm màu mè, hoa lá.”

Trăng khi ẩn, khi hiện, chiếc mũi là mùi hương, ông đem dấu đi, ông thường vẽ thiếu nữ không mũi, không mùi, chiếc cổ thanh tân thay bằng khăn san. Trong khi vào thập niên 60, 70, tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh Tây Phương thâm nhập vào không khí hội hoạ miền Nam. Những Nguyên Khai, Đinh cường vẽ thiếu nữ với chiếc cổ dài quá khổ. Ảnh hưởng của Amedeo Modigliani lan tràn khắp thế giới tạo hình. Các hoạ sĩ trẻ Sài Gòn đã một thời tôn ông làm thần tượng(Hoạ sĩ Trịnh Cung tiết lộ), đến nỗi nét đặc trưng của Nguyên Khai trong tranh thiếu nữ là chiếc cổ dài.

Thơ và nhạc ảnh hưởng rất lớn trong tranh Thái Tuấn, trong hoạ có thơ, trong tranh có nhạc. Ông thích thơ Jacques Prévert, Quách Thoại, nhạc Phạm Duy, nhạc Trịnh Công Sơn. Ông vẽ chân dung của họ qua phong cách, hình ảnh của chính mình mà ông gọi là hoá thân.

Từng chiếc ba cây diêm phựt cháy trong đêm

Cây thứ nhất để nhìn trọn khuôn mặt em

Cây thứ hai để nhìn đôi mắt em

Cây cuối cùng để nhìn môi em

Và bóng tối dầy đặc để anh nhớ lại tất cả

Khi ôm em trong tay.(Paris at night-Jacques Prévert)

 

 

pic4-hoa-than-2-tcs

 Hoá thân 2, 1982(Trịnh Công Sơn)

Ngoài tranh thiếu nữ và chân dung, ông còn vẽ tranh phong cảnh và tĩnh vật. Thế giới thiên nhiên và tĩnh vật trong tranh ông thường dạt dào tâm cảm, lặng lẽ và u hoài. Vì chủ trương đơn giản đến tận cùng, hình khối, âm ngữ là chính nên khoảng trống trong tranh ông lại càng mênh mông hơn. Ông tâm sự trong một buổi phỏng vấn “Về lối vẽ của tôi, tôi chú trọng đến tinh thần đơn giản, thanh đạm, muốn dùng rất ít đường nét, rất ít màu sắc và ưa để những khoảng trống lớn trong tranh.”

 

thaituan

Cuối cùng, ông cũng đã lên đường ra đi về nơi những khoảng trống trong tranh ông. Những khoảng lặng chất đầy thơ mộng và giấc mơ trần gian đó, giờ là chất “rỗng”, an nhiên và thảnh thơi ở cõi tịnh. Nhân ngày giỗ ông, tôi xin thắp nén hương cho khói toả đến khoảng chân trời xa ấy một lời cầu nguyện chân thành.

 

 

Trịnh Thanh Thủy

 

Phỏng vấn Nguyên Khai

Posted: Tháng Mười 21, 2016 in Trang Chủ

Nguyên Khai, tranh quý nhờ màu sắc quý.

Trịnh Thanh Thủy

 

Tôi gặp hoạ sĩ Nguyên Khai trong một buổi triển lãm chung của ông với hoạ sĩ Ann Phong một buổi chiều Bolsa. Tôi cũng được xem bức tranh tranh trừu tượng “Rain” của ông trong buổi triển lãm “Những Thế Hệ: 40 Sắc Màu Giữa Đen Và Trắng” do VAALA tổ chức. Bức “Rain” của ông miêu tả những hạt mưa rơi đã gây ấn tượng cho tôi. Những hạt thuỷ tinh rơi xuống cho những giọt nước mắt dấy lên. Tôi hình dung được trong gam màu nóng đỏ những máu và nước mắt dân tôi đã đổ xuống qua hơn nửa thế kỷ chiến tranh. Những nhọc nhằn đoạ đầy chưa bao giờ vơi, được ông diễn đạt lại thật sâu sắc.

Nguyên Khai tên thật Nguyễn Phước Bửu Khải, sinh năm 1940 tại Huế. Ông học trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế và Sài Gòn. Là một trong những sáng lập viên Hội Hoạ Sĩ Trẻ Việt Nam, ông đoạt Huy Chương đồng triển lãm Hội Hoạ Mùa Xuân 1963. Hiện định cư tại California. Đã tham dự nhiều cuộc triển lãm tại Hoa Kỳ và các quốc gia khác như Ấn Độ, Ba Tây, Nhật, Pháp và Việt Nam.

Hôm nay tôi có cơ hội nói chuyện với người đàn ông cầm cọ suốt quãng đời mình. Người đã tạo nên “các thiếu nữ cổ dài” thời xưa và những tác phẩm đa dạng trong phong cách và chất liệu bây giờ.

Pic 1. Trịnh Thanh Thủy với Nguyên Khai và tranh của ông

1)TTT: T rất vui được nói chuyện với anh, người hoạ sĩ mà T được nghe tiếng từ ngày còn ở Việt Nam. Xin cho T hỏi, anh bắt đầu niềm đam mê hội hoạ của mình bao giờ và bước vào như thế nào?

NK: Ngay từ thời thơ ấu tôi đã đam mê hội hoạ nhưng không có điều kiện phát triển. Năm 17 tuổi, tình cờ tôi biết đến trường Mỹ Thuật Huế do Linh mục Cao Văn Luận thành lập năm 1957, nên xin theo học. Hồi đó muốn vào, phải học dự bị xong mới thi vào năm thứ nhất và tiếp tục lên trên. Vào trường năm 1959, tôi đã vẽ tranh và có triển lãm. Nhờ đọc báo Sáng Tạo, tôi nghĩ miền nam mới chính là đất quy tụ và phát huy được văn hoá và mỹ thuật, nên xin gia đình vào Sài Gòn và theo học ở trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn năm 1962. Năm 1963, bức tranh “Hoa hồng, chim họa mi và đôi ta” mà tôi gởi đi dự thi đoạt huy chương đồng giải “Văn học nghệ thuật toàn quốc” của phủ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, thời đệ nhất cộng hoà. Tôi không dám ghi tên thật, vì thời đó luật trong trường Mỹ Thuật là sinh viên đang theo học cấm không được gởi tranh dự thi, tôi liều gởi đi đại. Sau đó giải thưởng này đã như một nấc thang, một bàn đạp giúp tôi bước vào thế giới hội hoạ một cách hăng say hơn. Năm nào tôi cũng có triển lãm cá nhân, đặc biệt được người Pháp ưa thích và được vinh dự cơ quan Văn Hoá Pháp(Alliance Francaise) đã tổ chức triển lãm cho tôi.

2)TTT: Được biết anh là một trong những thành viên nồng cốt của nhóm Hoạ Sĩ Trẻ vào thập niên 60, anh có thể kể lại lý do tại sao anh có mặt trong nhóm này?. Nó có giúp ích gì cho hành trình dấn thân trong con đường nghệ thuật của anh hay ngành mỹ thuật VN ngày đó? Xin cho T nghe một câu chuyện hay kỷ niệm vui đáng nhớ về nhóm nàỵ

NK: Ngày ấy có bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng thấy các anh em hoạ sĩ trẻ có tài năng mà chưa ngồi lại với nhau. Ông sợ bị phân tán mất, nên có sáng kiến lập ra Hội Hoạ Sĩ Trẻ. Lại có Ngy Cao Uyên là hoạ sĩ Trung Tá không quân và Lưu Kim Cương là những người yêu hội hoạ mà có tư cách hợp pháp, (để xin giấy phép lập hội), cùng đứng ra như các mạnh thường quân giúp đỡ cho hội được thành hình.

Những hoạ sĩ thành danh nhờ có giải thưởng. Ngày ấy, phần lớn những thành viên của HHS Trẻ đều có các giải thưởng quan trọng của quốc gia,  huy chương bạc, đồng v..v..như Nguyễn Trung, Nguyễn Phước, Nguyễn Lâm hay Trịnh Cung chẳng hạn. Mục đích của hội để trao đổi hình thức sáng tác khiến mỗi người có được một đường lối sáng tạo riêng. Được nơi tụ hội gặp gỡ, ai cũng hăng say sáng tác và đi tìm các phong cách mới nhưng khác nhau. Tỷ như Hồ Thành Đức thì dán giấy, Đỗ Quang Em vẽ tranh hiện thực… Nhờ vậy đã tạo nên một không khí, một môi trường phát triển sáng tác, và… tôi cũng có mặt.

Tôi có một kỷ niệm vui vui trong khi làm trụ sở hội. Lúc đó anh em nghèo, không có tiền xây trụ sở. Do sáng kiến của họa sĩ Ngy Cao Uyên, chúng tôi đổi tranh cho sư đoàn 5 Không Quân trong Tân Sơn Nhất để lấy gỗ. Gỗ do Mỹ viện trợ cho Không Quân xây dựng doanh trại đồn trú. Khi đi tìm đất để xây, tôi và Hồ Thành Đức thấy trong khu của Đại Học Văn Khoa có khoảnh đất trống, gần đó có nhóm CPS và Nguồn Sống vẫn sinh hoạt. Chúng tôi vào gặp Phạm Quốc Bảo là chủ tịch hội sinh viên thời bấy giờ. Tôi hỏi “Mày có miếng đất nào cho chúng tao xin xây hội không? “ Anh bảo “Có miếng đất sát đường đó, chúng mày lấy đi”. Thế là tụi tui “lấy thì lấy”. Chúng tôi lấy gỗ về, tự vẽ kiểu và thuê thợ nề. Khi ấy không có tiền, phải đóng góp và bán tranh trả công thợ. Trở ngại thứ đến, khi xây gần xong, phải lắp điện nước và điện thoại mà chúng tôi không có giấy phép để bắc vì mọi thứ đều bất hợp pháp.(Kể cả một số lớn thành viên trốn quân dịch vì trong hạn tuổi gọi nhập ngũ). Vì thế khi thợ bắc điện thoại và điện nước đến, tôi được dặn phải đứng canh cảnh sát, thấy thì la lên. Tôi đứng canh mà vừa mắt la mày liếc, vừa run. Tới việc phải mở cổng đi vào hội. Thợ nói phải có giấy phép của chính phủ mới phá gờ xi măng phía trước, mới mở ra mặt đường được. Họ hỏi có phép chưa. Chúng tôi nói liều, có rồi. Thế là tôi lại đứng canh cảnh sát trong tình trạng…bất hợp pháp. . Rồi cũng xong, trụ sở có đủ phòng họp, phòng trưng bày tranh và nhà vệ sinh. Tất cả sơn trắng như toà Bạch Cung, tường căng bố, đủ cả đèn đuốc. Sau vụ Mậu Thân 1968, trụ sở bị chính quyền san bằng.

Pic 2. Khóc đi, quê hương tôi yêu dấu, 24×30, sơn dầu trên bố (1992)

3)TTT: Thế giới trong tranh anh được nhiều người phê bình, nhận định như: thơ mộng, quyến rũ, trang nhã, và bình yên hoặc là thơ ca được dựng lại bằng sắc màu trên nền vải. Xin cho biết cách tạo màu sắc của anh?

NK: Đối với tôi trong một bức tranh màu sắc là cái chính. Màu sắc có đẹp, tranh mới đẹp. Tôi nghĩ nên tạo những màu riêng cho mình quý như châu báu. Khi mình trân quý, nó sẽ như châu báu toả sáng làm tranh mình đẹp, chứ màu sắc bình thường, tranh cũng sẽ rất bình thường, không nổi trội được. Ví dụ như muốn tạo một màu xanh, trong màu xanh phải có rất nhiều màu làm nên một màu xanh không ai có. Tôi vẽ lâu, làm việc nhiều, vọc nhiều nên khi dùng màu diễn tả điều mình nghĩ, muốn nói, dễ dàng hơn. Khi bắt đầu sáng tác, tôi thường bỏ màu lên trước rồi cạo đi rồi dập màu, sau đó nương theo đó mà vẽ, tạo bố cục, hình tượng hay vật thể.

Pic 3.Adam Eva, Trái Cấm, 40×72, sơn dầu trên bố (2000)

4)TTT: Người nghệ sĩ sáng tác đôi khi rơi vào một tình trạng khủng hoảng trong việc sáng tác, vì mất cảm hứng, bí đề tài, hay cấm đoán  không được sáng tác.. v..v…anh có từng bị như thế không? Trong trường hợp đó, để giải quyết anh đối phó ra sao?

NK: Khi sáng tác bị chậm lại tôi đổi phong cách và thử nghiệm một lối mới để thoát ra. Nhờ vậy tôi có những loạt tranh khác nhau như ở VN không có màu tôi chuyển qua vẽ lụa, sơn mài, bên Mỹ qua mixed media, monoprint. Khi bị cấm sáng tác tôi tìm cách thoát ra hay đào thoát. Hồi mới giải phóng, giới có thẩm quyền của miền Bắc vào miền Nam. Họ muốn quy tụ một số văn nghệ sĩ miền Nam lại để đánh bóng. Tỷ như bên nhạc thì có Trịnh Công Sơn, bên hội hoạ thì có Nguyễn Trung, Nguyễn Phước, Mai chửng, Ngô Bảo …v..v.. và tôi. Hoàn cảnh lúc ấy, những văn nghệ sĩ miền Bắc không có cảm tình với chúng tôi, mà còn ghét. Nếu chúng tôi không gia nhập một hội đoàn văn nghệ nào, sẽ bị bắt bớ, đi kinh tế mới hay phường khóm bắt đi thủy lợi. Do đó tôi gia nhập hội văn nghệ và được đi thực tế. Tôi và Đỗ Quang Em vào một nhà máy chuyên làm toa xe lửa để vẽ công nhân. ĐQE vẽ một ông công nhân già phía sau là một toa xe lửa rất cổ. Ông mặc một cái áo có lỗ rách ở giữa. Tôi cũng vẽ một ông công nhân già nhưng bên cạnh ông dăm ba cái búa, kềm nằm lăn lóc dưới đất. Lối vẽ của ĐQE là từ trên xuống dưới theo lối họa hình. Còn tôi đắp màu lên trước rồi cạo, nên tranh tôi đang hoa hoè, hoa sói tùm lum trên canvas. Khi ấy, nhằm lúc nhóm đảng đoàn đi kiểm soát. Xong họ về báo cáo, bảo, sao hội lại có hai anh hoạ sĩ, một anh thì hoạ hình(ĐQE), một anh thì vẽ quảng cáo(tôi)!!! Giám đốc nhà máy nói, vẽ xong phải đưa ông kiểm duyệt trước. Xong đưa ông coi, ông phán, các anh vẽ như thế này là bôi nhọ chế độ. Anh kia(ĐQE), công nhân mặc áo rách phải sửa cho lành. Còn anh(tôi), sao nghèo nàn quá, cho thêm dụng cụ kềm búa vào. Khi đô thành đưa hai bức đi triển lãm, cả hai đoạt giải nhất và nhì.

Tôi suy nghĩ, một chế độ mà hoạ sĩ bị điều khiển như vậy làm sao sống được. Với tôi, cái gì cản trở sáng tác, nó là kẻ thù. Tôi vượt biên. Tôi thực hiện câu nói thời còn trong HHS Trẻ “ Cuộc đời ta sẽ hiến dâng cho tình yêu và nghệ thuật, tất cả mọi cản trở là kẻ thù của ta, nguyện đời ta như ánh sao băng trong đêm tối, như hạt sen nẩy mầm trong vũng bùn kia hay ngọn sóng cao trong biển cả.”

Pic 4. Linh hồn hoa sen, 40×60, sơn dầu trên bố(1988)

5)TTT: T tình cờ xem được một bức tranh thiếu nữ “The spirit of Lotus”, “Linh hồn của hoa sen” . T rất ngạc nhiên trong lối anh vẽ người thiếu nữ chuyển động và sự đề cao người thiếu nữ tợ hoa sen trong tranh anh. Nhờ anh giải thích ý nghĩa bức tranh và nói thêm về phong cách tạo hình trên bức này không?

NK: Khi mới qua Mỹ, tôi có vẽ một loạt tranh thiếu nữ Việt Nam “nude”(khoả thân). Tôi muốn có một sự chuyển động trong tranh nên tôi cho họ linh hoạt và bay bổng như trong bức này. Câu chuyện bắt đầu từ người phụ nữ VN thời ấy phải chịu nhiều thăng trầm, gian truân, và những đau khổ, dằn vặt. Từ những người vợ sau giải phóng bôn ba ra đời kiếm sống, nuôi dạy con còn phải đi thăm nuôi chồng ở trại cải tạo, đến các thiếu nữ vượt biên bị tù tội, hải tặc hãm hiếp. Qua tới Mỹ họ lại phải đương đầu với cuộc sống khó khăn và làm lại từ đầu. Gương cao quý của họ đẹp như hoa sen vậy. Cô có hỏi tôi về thế nằm của người thiếu nữ?. Thế nằm ngửa của cô ta khiến cô có thể thở hít hết tinh tuý của hoa sen và khí thiêng của trời đất. Nền có những lá chuối và cũng là tóc của cô tượng trưng cho quê nhà Việt Nam.

7)TTT: Là một họa sĩ Việt Nam thành danh, tốt nghiệp từ Trường Mỹ Thuật chuyên nghiệp anh có nghĩ rằng muốn là một hoạ sĩ có cần qua một đào tạo trường lớp không? Anh có muốn nhắn nhủ gì cho những bạn trẻ đang bắt đầu trở thành họa sĩ?

NK: Tôi nghĩ, vẽ cần có một căn bản vững vàng nhờ trường lớp và vẽ nhiều, ngoai trừ trường hợp thiên tài, nhưng rất hiếm. Nếu không ban đầu chỉ vẽ được vài bức khá sau đó yếu dần vì không điều khiển được, có thể bị lập lại mãi không thoát ra được. Khi đã có nền móng căn bản rồi cần quên căn bản để thoát ra đi vào sáng tạo.

Tôi không phải là một ai ghê gớm gì, tôi chỉ muốn chia sẻ kinh nghiệm của người đi trước. Khi làm việc thì làm việc một cách thành thật mới đem lại nét đặc thù của chính mình, chứ nếu bị ảnh hưởng người khác nhiều quá sẽ không thoát ra được. Hơn nữa cứ vẽ và làm việc đừng đợi cảm hứng, vẽ hư chồng lên vẫn đẹp. Điều quan trọng ở tranh là màu sắc, nên chú ý đến màu sắc trước. Đừng nên coi thường màu sắc, tạo màu sắc quý cho riêng mình thì tranh mới trở nên quý được.

Cảm ơn anh, Chúc anh ngày càng thành công hơn nữa.

Trịnh Thanh Thủy