Archive for Tháng Ba, 2017

Quần thể tượng ở Thánh Địa La Vang

Hà Vũ Trọng

tặng QN, nhớ những ngày bên dòng Thạch Hãn

1

Toàn cảnh công trường Mân côi

Tâm thức thờ Mẫu hay Mẹ Cả dưới vô vàn hình thức đã có trong mọi nền văn hoá qua hàng chục ngàn năm nay. Điển hình là việc sùng bái các di tích Thánh Mẫu Maria trên thế giới đã trở thành tâm điểm hành hương của tín đồ Thiên Chúa giáo, như Lourdre (Pháp), Fatima (Bồ Đào Nha), Plaza del Pilar (Tây Ban Nha), Guadalupe (Mexico),v.v… Ở Việt Nam, cách thị xã Quảng Trị vài cây số, ở huyện Hải Lăng, từ ngoài quốc lộ 1 đi vào khoảng hai cây số sẽ gặp La Vang là một di tích lịch sử độc đáo, từ lâu đã trở thành thánh địa hành hương quan trọng nhất của người Công giáo Việt Nam. Vào cuối thế kỉ 18, với chiếu chỉ cấm đạo dưới triều vua Cảnh Thịnh, người Công giáo lánh nạn tại nơi đây, họ đã tin rằng hình tượng người đàn bà bồng con hiện ra che chở mà họ thấy chính là Đức Mẹ hiển linh. Ngày nay, hàng năm La Vang có hơn nửa triệu người về hành hương và đã tạo thành truyền thống cứ ba năm hành hương thì có một Đại hội. Đền Thờ La Vang vốn tồn tại được 44 năm (1928 – 1972) thì chiến cuộc năm 1972 đã gây nên tổn thất vô cùng nặng nề, nay chỉ còn di tích tháp chuông loang lổ bom đạn. 

2

Di tích tháp chuông giáo đường La Vang

Giai đoạn kiến thiết quan trọng của La Vang xảy ra vào năm 1961–63, khởi đầu từ quyết định của hội đồng Giám mục miền Nam công nhận La Vang là Trung tâm Thánh Mẫu Toàn quốc. Và từ cấp Đền thờ La Vang được Toà thánh Vatican chấp thuận nâng lên thành Vương cung thánh đường (Basilica). Giai đoạn kiến thiết này mang tính giải cấu trúc những khuôn mẫu nặng tính phương Tây của các cố đạo Pháp thời trước, để hướng tới những chủ đề và cấu trúc biểu tượng mang ý nghĩa văn hoá bản địa. Về mặt đồ án có sự đóng góp của các nhà chuyên môn danh tiếng thời ấy, như kiến trúc sư Ngô Viết Thụ với đồ án linh đài ba cây đa nhân tạo (bằng bê tông cốt thép), cao tới 21 mét nằm trên ngọn đồi đá hình đa giác với những bậc thềm bằng đá dẫn lên để tín đồ đứng cầu nguyện, tái tạo cảnh quang dựa theo lời truyền tụng “Đức Mẹ hiện ra trên đám cỏ, dưới gốc cây đa”. Dưới chính giữa đài là bàn thờ bằng đá cẩm thạch Ngũ Hành Sơn và mẫu tượng Đức bà ban ơn ngự trên cao giữa chính điện. Tuy nhiên, linh đài ba cây đa này được khởi công vừa xong phần bê tông cốt thép, chưa có phần trang trí mỹ thuật bên ngoài thì bị đình đốn do biến cố ngày 01.11.1963 xảy ra. Hơn 40 năm qua, linh đài vẫn tồn tại nguyên trạng ban đầu.

Bài viết này và ảnh chụp đặc biệt nhấn mạnh vào nhóm tượng 15 Mầu nhiệm trên Công trường Mân côi, có thể xem là quần thể điêu khắc quy mô có giá trị vào bậc nhất trong lịch sử nghệ thuật hiện đại ở Việt Nam.

Trong cuộc tái thiết đền thờ La Vang, quần thể tượng ở thánh địa này là công trình sáng tạo của điêu khắc gia Lê Ngọc Huệ (còn gọi là Bernard Huệ, sinh năm 1936 ở Huế) cùng với sự cộng tác đắc lực của người học trò tài ba của ông là Mai Chửng. Khi ấy Lê Ngọc Huệ đang là giáo sư trường Cao Đẳng Mĩ thuật Huế và mới tốt nghiệp trường Cao đẳng Mĩ thuật Montpeller từ Pháp về vào năm 1961, ông đã thổi một luồng gió mới của chủ nghĩa  hiện đại vào điêu khắc Việt Nam. Quần thể tượng này được thực hiện từ năm 1961-62, gồm 15 pho đặt trên bệ, chất liệu tổng hợp từ xi măng trắng, nằm dọc cân xứng hai bên đường lát đá và rải thảm cỏ từ cổng tam quan đi vào trong khuôn viên Công trường Mân côi. Diện tích công trường 30 x 480 mét. Khuôn viên này dẫn đến đền thờ và lễ đài ngoài trời, cũng là hình ảnh thu nhỏ của đàn tế Nam giao ở Huế.

Trong Mùa Hè Đỏ lửa 1972, Công trường Mân côi cũng bị bom đạn cày xới lỗ chỗ, một số bức tượng trong quần thể 15 Mầu nhiệm bị tan nát hoặc bị sứt mẻ trầm trọng. Chỉ còn ba cây đa nhân tạo nơi đài Đức Mẹ là vẫn đứng vững, nguyên vẹn. Dấu tích hoang tàn kéo dài đến năm 1975. Và từ năm 1995, Công trường Mân Côi đã được tái thiết hầu như nguyên trạng ban đầu với thành rào bao quanh, sân cỏ, trồng cây, đèn cao áp, lối đi cũng là lộ trình kiệu được lát gạch chạy thẳng từ cổng tam quan đến lễ đài, và điều đáng kể là các pho tượng mầu nhiệm Mân Côi bị hư hại cũng đã được phục chế.

Chủ đề 15 pho tượng của Lê Ngọc Huệ tương ứng với sự chiêm ngắm 15 Mầu nhiệm Mân côi gồm: Năm sự Vui, Năm sự Thương, và Năm sự Mừng. Chủ đề này đặc biệt thích hợp cho thánh địa sùng bái Thánh Mẫu nếu so với chủ đề thường lệ thấy trong hầu hết khuôn viên của các nhà thờ là “14 đàng ngắm Thánh giá”. Mân côi (Rosary) nghĩa là “vòng hoa hồng”, mỗi lời kinh Kính mừng hay Ave Maria như một đoá hồng đẹp xinh sẽ kết thành một lẵng hoa hay vương miện hoa hồng dâng lên Đức Mẹ. Đọc kinh Kính mừng là sự chiêm nghiệm theo trình tự những mầu nhiệm hay sự kiện chính trong cuộc đời, sự thương khó, cái chết, và vinh quang của Chúa Giêsu và sự tham dự của Mẹ ngài là Maria.   

Về mặt nghệ thuật, nhóm tượng La Vang lần đầu tiên mang phong cách hiện đại trừu tượng vào nền điêu khắc Việt Nam một cách quy mô, ở đây là sự kết hợp những khối hình học được tinh giản và cách điệu hoá, đạt tới mức vừa trừu tượng vừa cụ tượng (representational), cũng là trào lưu của nghệ thuật hiện đại phương Tây trở về tái tạo nghệ thuật nguyên thuỷ của các nền văn hoá thế giới. Quần thể tượng chủ ý vẫn giữ tính tượng trưng và gợi ý để gần gũi với quan chúng hơn và với tín đồ chiêm ngắm khi hành hương. Vì thế, chúng không thể nào thực hiện tới mức trừu tượng “thuần tuý” như tác phẩm của các nhà điêu khắc bậc thầy như Brancusi, Henry Moore và Barbara Hepworth đã đạt tới trong tác phẩm của họ. Điều đáng kể ở đây, không chỉ có sự cách điệu hình khối, Lê Ngọc Huệ đã nỗ lực đem đường nét vào trong điêu khắc để tạo hiệu quả bóng sáng tối giữa các mảng hoặc khối với tiết điệu đầy thi vị, vừa như phương tiện dẫn dắt thị giác tập trung vào ý nghĩa hàm súc trong từng pho tượng khi chiêm ngắm.   

Trong kinh nguyện Mân côi đọc mỗi ngày, 15 mầu nhiệm được chia thành 3 bộ, mỗi bộ trong đó lại có 5 đề tài khác nhau để chiêm nghiệm (mỗi đề tài được đọc bằng mười bài kinh Kính mừng). Để bổ sung vào những mầu nhiệm chiêm ngắm này, trong đó người ta lại phối hợp chúng với các đức tính gương mẫu với từng mầu nhiệm (như tính khiêm nhường, bác ái, nghèo khó, thanh sạch…). Dựa vào đó, mỗi “bộ” về hình thể điêu khắc súc tích được cái ý tưởng cốt yếu của từng đề tài:

  1. Năm sự vui(Hình 1–5): Chiêm ngắm những khoảnh khắc trong đời Đức Mẹ Maria, đây là những đề tài giàu cảm xúc và thân thiết, như trong cảnh thiên thần truyền tin hoặc tình cảm giữa người nữ với nhau, việc sinh đẻ, tình mẹ con. Điêu khắc chủ yếu dùng những bố cục và đường nét cong đầy nữ tính, hình khối tròn mềm mại hài hoà khi vận dụng đường uốn lượn nhịp nhàng của cử động và y phục.
  2. Năm sự thương(Hình 6–10): loạt tượng này chủ yếu dùng những mẫu khối hình học lập thể táo bạo và mãnh liệt thật thích hợp để diễn tả nỗi khắc khoải và thống khổ vừa trong nội tâm và thể xác của Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn, như cảnh cầu nguyện trong vườn cây dầu, cảnh thụ hình và chịu đóng đinh.
  3. Năm sự mừng(Hình 11–15) là những đề tài hân hoan, thăng hoa và tôn vinh. Hình khối điêu khắc từ đây ít tính khắc khổ, ngoại trừ pho “Chúa Giêsu sống lại” vẫn giữ phong cách lập thể và biểu hiện để thống nhất với Năm sự Thương, các pho còn lại trở về với hình khối mang tính tượng trưng với đường nét tròn đầy của nữ tính để diễn tả trạng thái viên mãn, nhất là với các bức thể hiện Đức Mẹ.

Cần nhắc lại, Lê Ngọc Huệ từng ở trong uỷ ban chuyên môn về mĩ thuật trong cuộc Triển lãm Mĩ thuật đệ I, gồm 22 quốc gia, tổ chức tại công viên Tao Đàn ở Sài Gòn vào tháng 10 năm 1962. Tại cuộc triển lãm này, Lê Ngọc Huệ và Điềm Phùng Thị là hai nhà điêu khắc quan trọng nhất của Việt Nam tham dự tác phẩm. Cả hai ngẫu nhiên trùng phùng qua hình tượng trụ cột tâm linh hướng tới những khát vọng hoà bình, gia đình và tổ tiên: Lê Ngọc Huệ với “Trụ cột hòa bình”, Điềm Phùng Thị với “Trụ thần vật”, ví như những trụ vật tổ (totem poles) hay trụ tượng nhà mồ Tây Nguyên ngày đêm đứng canh giữ giữa cõi sống và cõi bên kia là nơi cư ngụ của tổ tiên. Chúng ta hầu như không có thông tin về hoạt động nghệ thuật của nhà điêu khắc Lê Ngọc Huệ kể từ sau biến cố đảo chánh Ngô Đình Diệm năm 1963; ông đã sang Pháp sau đó.

Tác phẩm của Lê Ngọc Huệ để lại cho đời tuy chỉ trong một giai đoạn ngắn nhưng sẽ còn toả sáng lâu dài vì mang những giá trị tâm linh thể nghiệm đạo đức Ki-tô giáo và mĩ học đương đại. Quần thể tượng là 15 đoá hồng mầu nhiệm – rosa mystica – chất chứa nhiều trạng thái cảm xúc từ bi tráng đến thăng hoa của con người vượt cảnh giới thế tục qua sự cứu chuộc của tôn giáo và nghệ thuật, và nằm trong một không gian và thời gian kết tinh của tâm linh qua những thăng trầm của lịch sử. Do vậy, không phải tình cờ mà Quảng Trị là nơi 21 năm phân cách hai miền Nam-Bắc với vĩ  tuyến 17; nơi có dòng sông Thạch Hãn đẫm “mồ hôi của đá”; nơi trải qua nhiều tang thương của hơn 200 năm phân tranh Trịnh-Nguyễn, “Mẹ thương con ra cầu Ái Tử”; nơi được mệnh danh là “con đường buồn thiu” trong chiến tranh 1946-54; và cuối cùng là nơi gánh chịu điêu tàn nhất của thời 1960-75 với “Đại lộ kinh hoàng” và với cổ thành không còn viên gạch nào nằm trên viên gạch nào, lại trở thành nơi kết tụ tinh hoa của những thăng hoa nghệ thuật.

*

Nhóm tượng 15 mầu nhiệm Mân côi ở La Vang
( Tác phẩm điêu khắc của điêu khắc gia : Lê Ngọc Huệ )

NĂM SỰ VUI

  1. Thiên Thần truyền tin cho Đức Mẹ chịu thai. 

    3

  1. Đức Mẹ đi viếng bà thánh Isave 

    4

  1. Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu. 

    5

  1. Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào đền thánh. 

    6

  1. Đức Mẹ tìm được Chúa Giêsu trong đền thánh. 

    7

NĂM SỰ THƯƠNG

  1. Chúa Giêsu cầu nguyện trong Vườn Cây Dầu. 

    8

  1. Chúa Giêsu chịu đánh đòn. 

    9

  1. Chúa Giêsu chịu đội mão gai. 

    10

  1. Chúa Giêsu chịu vác thánh giá. 

    11

  1. Chúa Giêsu chịu chết trên cây thánh giá. 

    12

 

NĂM SỰ MỪNG

  1. Chúa Giêsu sống lại. 

    13

  1. Chúa Giêsu lên trời. 

    14

  1. Chúa Thánh Thần hiện xuống. 

    15

  1. Đức Mẹ hồn xác lên trời. 

    16

15. Đức Mẹ được tôn vinh trên trời

 

17

 

Hà Vũ Trọng