Archive for the ‘Trang Chủ’ Category

triển lãm tranh Nguyễn Trọng Khôi

Posted: Tháng Mười 10, 2017 in Trang Chủ

Nguyễn Trọng Khôi,
viên đá bay giữa vùng tâm tưởng xám

Họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi đang làm việc với tác phẩm

  Thật khó giải thích tại sao tranh Nguyễn Trọng Khôi vẫn được rất nhiều khán giả thưởng ngoạn yêu thích. Anh hoàn toàn không mới, không trào lưu, không chủ trương hiện đại. Triển lãm mới nhất của họa sĩ vừa khai mạc tại gallery Eight (8A Phùng Khắc Khoan – Q.1, TP.HCM) được khá đông giới nghệ sĩ và thưởng thức nghệ thuật tìm đến.

Tôi có vài kỷ niệm đẹp về họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi. Mùa hè 2015, tình cờ tôi về Đà Nẵng thăm nhà cũng là lúc anh bay từ Mỹ về triển lãm tranh tại thành phố biển.

Anh đánh thức cái khí quyển vốn trầm mặc, êm đềm, uể oải có phần rụt rè, ngại va chạm của giới mỹ thuật tại đây. Tranh Nguyễn Trọng Khôi như đem một năng lượng mới đầy sinh lực và khỏe khoắn. Cũng có nhiều cuộc tranh cãi, trao đổi mini về thế giới tranh của anh. Nó cho thấy tính độc sáng, phong cách tài năng. sự riêng biệt cần có của một họa sĩ.

Họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi (thứ ba, từ trái sang) thăm bạn bè văn nghệ cũ tại tòa soạn Duyên Dáng Việt Nam: Nhà báo Đoàn Khắc Xuyên (thứ hai), nhà văn Từ Kế Tường (thứ tư) và Nguyễn Hữu Hồng Minh. 

Rời thành phố biển, tôi vẫn mang theo một nhịp thức từ tranh anh. Đó là thế giới hiện thực vẫn ngồn ngộn những vấn đề hậu chứng cần giải phẫu. Nguyễn Trọng Khôi không tách bỏ hiện thực mà lặn sâu vào nó để sắc màu trương nở, cô độc vây bủa những chiêm nghiệm. Tôi nghĩ là anh đã thành công cũng như khó thoát khỏi những ám ảnh của hiện thực. Với sáng tạo, chúng ta luôn mang dấu vết trầm luân và trầm tư của ý thức đổ vỡ và rất khó để đào thoát hay bước ra khỏi nó.

Vô đề 

Nhưng thật bất ngờ. Anh đã hoàn toàn thay đổi khi giới thiệu cùng bạn bè nghệ sĩ và giới yêu tranh một phong cách hoàn toàn khác. Rất nhiều bạn bè, văn nghệ sĩ như các nhà thơ Bùi Chí Vinh, Triệu Từ Truyền, Chinh Lê, các họa sĩ Phan Phương Đông, Phan Nguyên, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Hải Nguyễn, Nguyễn Tấn Cương, Nguyễn Trịnh Thái, Nguyễn Hưng Trinh, Bùi Tiến Tuấn, nhà phê bình mỹ thuật Trần Hậu Tuấn, Hà Vũ Trọng, nhà báo Nguyễn Trọng Chức… và nhiều tên tuổi khác đến chia vui trong ngày khai mạc triển lãm phòng tranh.

Trumpet tháng 6

Triển lãm lần này của họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi tại gallery Eight (8A Phùng Khắc Khoan, Q.1, TP.HCM) sau 3 năm, bắt đầu từ ngày 7 đến 30.10.2017. Anh đi vào thế giới siêu thực, trừu tượng nhiều hơn hiện thực. Hay cái còn lại khi một hiện thực bị tách bỏ. Họa sĩ cho thấy tài năng khi bay lượn, va động giữa cái Tôi đa đạng.

Ngày tuyết 

Nguyễn Trọng Khôi cho biết anh vẽ trừu tượng từ những vấn đề cụ thể. Ví dụ như mùa đông, cái lạnh, sự trống rỗng, nỗi cô đơn thường trực nơi anh ở. Và đôi khi chỉ một tiếng kèn hay piano dội thức, anh đã vẽ miên man theo một nhịp của nội tại chân không. Những màu sắc tung vỡ, những chớp lóe trừu tượng hay siêu hình đều quẫy cựa từ sâu thẳm bình yên. Đôi khi màu tuyết trắng rợn, một con quạ trên cành cây nếu cây cọ không đưa lên, người nghệ sĩ không làm việc hoang vắng như cái chết.

Mùa thu êm ả

Tổng thể, trên hết của những thay đổi, thể nghiệm, vẫn là phòng tranh đẹp. Đẹp đúng nghĩa của hội họa, của nghệ thuật. Một người nghệ sĩ cả cuộc đời đi tìm kiếm chính mình trong màu sắc, âm nhạc… tận tụy, nâng niu, gìn giữ từng khoảng khắc hạnh phúc sống. Tranh Nguyễn Trọng Khôi chín và căng tràn về ý tưởng. Cảm giác như một khối nén chật hết cỡ. Người yêu tranh có thể òa vỡ khi thấy lòng mình, cảm xúc mình “dây” trên tranh.

Vịnh sương mù

Xen kẽ giữa phòng tranh vẫn còn một số bức của hiện thực như nhắc những xung đột man rợ, trầm uất của thời cuộc, thời đoạn. Của cuộc sống tràn trề những phi lý mà tôi có cảm giác nét cọ tài tình của Nguyễn Trọng Khôi rung cảm, chạm tới những khoảng sâu nhất của bóng tối.

Một thời đang qua

Thời gian là một ám ảnh trong tranh Nguyễn Trọng Khôi. Ký ức đẹp nhưng đôi khi tuổi tác là những viên đá nặng nề bay trong vùng tâm tưởng xám. Một thời đang qua như là bức tranh đẹp nhất, mãn nguyện nhất được anh dùng trên Art Exhibition. Như thông điệp, nghệ thuật sắc màu của mỗi họa sĩ chính là chứng nhân còn lại giữa đời sống bất toàn, an viễn.

Họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi, họa sĩ Phan Nguyên cùng nhà sưu tập, phê bình mỹ thuật, giám đốc gallery Eight Trần Hậu Tuấn 

* Hình như ở triển lãm Eight Sài Gòn của hoạ sĩ Nguyễn Trọng Khôi đợt này khác rất nhiều những lần trước? Chủ đề, phong cách thể hiện đều được mở rộng? Nói cách khác, đích đến không còn giới hạn?

Họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi: Lần triển lãm này tôi không tập trung vào một chủ đề và thể loại. Đây là số tranh đã thực hiện trong thời gian qua, cả Abstract và Realism.

Về tranh trừu tượng, tôi không có mục đích vẽ như trẻ con như đại đa số những tuyên bố quen thuộc của các họa sĩ khác đã từng. Tôi chỉ trình bày một ít cảm xúc về không gian thiên nhiên, nội tâm hay rung động về khía cạnh âm nhạc, hân hoan đắm chìm trong sự sắp xếp những mảng khối màu sắc chọn lọc theo cảm quan từ những kinh nghiệm, ý thích. Những đường biểu diễn kết hợp tạo những biểu cảm cho toàn bộ không  gian.

Gió và cát cùng những xung đột hiển nhiên

Không có một cái gì tùy tiện trong tranh của tôi, ngay cả cách đổ màu, loang màu, những nét cọ vòng vèo hay mảng khối, v.v… Cảm giác hướng dẫn bàn tay có rèn luyện và kinh nghiệm đến hướng chủ đích.

Nhà thơ Nguyễn Duy, nhà báo Nguyễn Quốc Thái, Nguyễn Trọng Chức tại triển lãm 

* Trở lại với dấu vết hiện thực đã thành ấn tượng, thành công trong tranh Nguyễn Trọng Khôi. Hình như vài bức sót lại trong triễn lãm này cũng không dễ tiếp cận. Nếu không nói, một hiện thực mới tươi tắn và lạ lẫm?

– Về tranh hiện thực, tôi thường thích có bóng dáng con người, trình bày những băn khoăn trong đời sống, yên lặng và một chút mơ hồ nơi biên cương giữa thực và ảo. Tôi luôn thích cảm giác này, một không gian có một chút huyễn hoặc, huyền ảo; có một chút hoài nghi ở thực tế, sự hiện diện của những điều cần lãng quên, giống như sự lẻ loi, cô đơn hay những nỗi buồn. Tranh của tôi bao giờ cũng thấp thoáng trừu tượng trong hiện thực.

Ngày nghỉ 

– Về kỹ thuật thể hiện, thế giới hình sắc Nguyễn Trọng Khôi có gì mới không, thưa anh?

– Với kỹ thuật, tôi loại bỏ dần những nét chi tiết nhuyễn ướt, sắc nét, thay vào đó sự thô mộc cùng những sắc trầm, nó gần gũi tâm hồn giản đơn và cách nhìn khỏe mạnh đồng thời cũng nhuộm đầy sắc thẩm thấu u tịch. Tôi tận dụng kinh nghiệm để luôn thích tạo màu sắc như những miếng màu ngon lành, luôn luôn làm đẹp chất liệu bởi chưng tôi rất quý những phương tiện đã giúp cho tôi hoàn thành tác phẩm.

Rất đông văn nghệ sĩ, khán giả và rất nhiều lẵng hoa tươi gửi đến chúc mừng họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi trong ngày khai mạc triển lãm tranh của anh tại Sài Gòn. 

– Cuối cùng, trên tất cà màu sắc, tạo hình, tàì năng… thông điệp của anh muốn chuyển tải là gì? 

– Tôi là một họa sĩ bị bứng rễ khỏi quê nhà nên không thể vịn vào hình ảnh quê hương để sáng tác mà phải tìm một mẫu số chung để hòa hợp với chung quanh. Không thể vịn vào những dòng sông uốn lượn, bóng con đò hay những mái tranh, những hoài niệm tốt đẹp khắc họa từ ấu thơ… mà luôn tìm những trăn trở, những góc khuất trong tâm hồn, nỗi cô đơn và thân phận.

Sài Gòn, 10.10.2017

Nguyễn Hữu Hồng Minh

Advertisements

triển lãm tranh Nguyễn Trọng Khôi

Posted: Tháng Mười 10, 2017 in Trang Chủ

INVITATION

KHAI MẠC:

Triển lãm tranh RỪNG

Posted: Tháng Chín 10, 2017 in Trang Chủ

Rung2017_3

Đấu giá tranh Nguyễn Sáng

Posted: Tháng Tám 29, 2017 in Trang Chủ

Giới tài phiệt Việt Nam bơm tiền đầu tư nghệ thuật:
Bức tranh kỷ lục đấu giá 2,2 tỷ chỉ là khởi đầu

 

Lần đầu tiên ở một sàn đấu giá ở Việt Nam có một tác phẩm vượt ngưỡng 100.000 USD. Đó là bức sơn mài “Mèo vờn nhau” (kích thước 60 x 72cm) vẽ năm 1979 của danh họa Nguyễn Sáng.

Kỷ lục trên được xác lập tối 27/8, tại phiên đấu giá số 6 của Chọn’s Auction House, Hà Nội.

Bức tranh Mèo vờn nhau có giá khởi điểm 41.000 USD, qua nhiều lượt đấu quyết liệt của các nhà sưu tầm, cuối cùng đã thuộc về một người mua từ xa qua điện thoại, với giá 101.000 USD (tương đương 2,243 tỷ đồng). Sau giá gõ búa, người mua phải cộng thêm 10% giá trị, tức phải trả 111.000 USD để được sở hữu tác phẩm (tương đương 2,521 tỷ đồng).

Trước khi bức Mèo vờn nhau tạo kỷ lục, một số tác phẩm giá cao được bán đấu giá tại Việt Nam gồm: Tình yêu đầu tiên (Trần Văn Cẩn) bán tại nhà đấu giá Chọn có giá 41.000 USD, bức Mẫu đơn đỏ (Lê Phổ) bán tại nhà đấu giá Lý Thị giá 40.000 USD, bức Hạ Long (M.Thu) bán tại đấu giá Chọn với giá 35.000 USD.

MeoVonNhau

Bức “Mèo vờn  nhau” vừa được gõ búa thành công với mức giá kỉ lục

Bức Mèo vờn nhau được Nguyễn Sáng vẽ năm 1979, bằng chất liệu sơn mài trên vóc, ghép bốn tấm, kích thước tranh 60x72cm. Trước đây, bức tranh thuộc sở hữu của một vị đại sứ tại Việt Nam. Sau đó tác phẩm được đấu giá tại Hong Kong nhân kỷ niệm 30 năm của nhà Christie’s Asian (29/5/2016).

Nhà sưu tầm Phạm Văn Thông đã mua bức tranh tại Christie’s Hong Kong với giá 41.000 USD, ông gửi tới đấu giá tại nhà Chọn bằng với giá mà mình mua về. Bức tranh được bán với giá 101.000 USD, đạt lũy tiến 146%.

Tác phẩm không chỉ tạo kỷ lục bức tranh đắt nhất đấu giá tại Việt Nam, mà còn tạo kỷ lục cho tác phẩm đắt giá nhất của Nguyễn Sáng. Artprice – trang web lưu trữ cà cung cấp các dữ liệu đấu giá tranh trên toàn thế giới – cho thấy Nguyễn Sáng từng có 31 tác phẩm được đấu giá, trong đó tác phẩm đắt nhất trước đây chính là Mèo vờn nhau.

 

PhongDauGiaCHON

Bức Mèo vờn nhau có tạo hình mang tính đột phá. Được coi là tác phẩm có ảnh hưởng tới tạo hình tất cả các tác phẩm sau này của Nguyễn Sáng. Tranh có nhiều lớp nghĩa đằng sau, mang hồn cốt tinh thần phương Đông. Trong tranh, hai con mèo mang thế của hổ, đứng vờn nhau, tạo thành hình tròn khép kín. Tác phẩm mang hình ảnh đời thường nhưng được thể hiện trên nền vóc sơn lung linh ánh bạc.

Họa sĩ Nguyễn Sáng (1923 – 1988) là một trong bộ tứ nổi danh thứ hai của hội họa hiện đại Việt Nam (Nghiêm – Liên – Sáng – Phái). Nguyễn Sáng là gương mặt tiêu biểu của hội họa phương Nam. Ông là họa sĩ có tư tưởng, giải quyết các vấn đề xã hội một cách nhuần nhị, lay động. Tác phẩm của Nguyễn Sáng có hình họa và màu sắc hiện đại, giản dị mà không khô khan. Những tác phẩm thành công nhất của Nguyễn Sáng nằm ở sơn mài.

Ngoài tranh của Nguyễn Sáng, một số tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Trọng Kiệm cũng được các nhà đầu tư trả cao như: bức Ký họa đường Làng (đạt giá 12.000 USD), bức Mai chùa Hương (đạt giá 12000 USD), bức Phố mưa (của Mai Long) đạt giá 10.000USD.

 

Hằng Nga/Theo VTV News

 

Nghi vấn đấu giá tranh giả, mạo danh Tô Ngọc Vân: Xâm phạm đến ‘bàn thờ’ của Mỹ thuật Việt Nam!

 

 (nguồn: Thethaovanhoa.vn)

Một thông tin bất ngờ: trong phiên đấu giá của sàn Christie’s Hong Kong ngày 28/5, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã phát hiện một bức tranh đề là của họa sĩ Tô Ngọc Vân, nhưng có dấu hiệu rất rõ là tranh giả.

 

Và nhân vật chính trong vụ việc này là ông Jean François Hubert, nhân vật từng liên quan đến vụ trưng bày tranh giả động trời vào tháng 7/2016 tại TP HCM.

Ở thời điểm đó Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM tổ chức Triển lãm Những bức tranh trở về từ châu Âu giới thiệu 17 tác phẩm (trong đó có tranh của bộ tứ Nghiêm – Liên – Sáng – Phái) nằm trong bộ sưu tập của ông Vũ Xuân Chung.

Chất lượng của bộ sưu tập được “chuyên gia cao cấp về nghệ thuật Việt Nam và châu Á của Hãng đấu giá Christie’s Hong Kong” là ông Jean François Hubert đảm bảo. Nhưng ngay sau đó, giới mỹ thuật Việt Nam đã kết luận nhiều bức tranh trong bộ sưu tập này đều là giả.

 1

 Bức tranh có chữ ký “Mơ về một ngày mai” có chữ ký của họa sĩ Tô Ngọc Vân trên sàn đấu giá Chrisite’s Hong Kong ngày 28/5 (ảnh phải) và bức “The Young Beggar” của Bartolome Esteban Murillo (trái). Ảnh: Artble, Christie’s

 

 

Để rồi,ngày 28/5 vừa qua, nhà nghiên cứu Phạm Long phát hiện vào ngày 28/5, sàn Christie’s Hong Kong rao bán bức tranh Mơ về một ngày mai (Dream of the following day) ký tên danh họa Tô Ngọc Vân. Trên website Christie đăng kèm bài viết giới thiệu của Jean François Hubert với những lời đảm bảo dành cho bức tranh.

Trả lời báo giới, nhà nghiên cứu Phạm Long cho biết bức tranh ký tên danh họa Tô Ngọc Vân thực ra là tranh chép tác phẩm The Young Beggar (Trẻ ăn mày) của họa sĩ Tây Ban Nha thế kỷ 17 Bartolome Esteban Murillo. Giả dụ Tô Ngọc Vân có chép tranh thì ông cũng sẽ không thể ký tên mình vào bức tranh.

Và, trao đổi với Thể thao & Văn hóa ( TTXVN), các chuyên gia về mỹ thuật Việt Nam đều cho rằng bức tranh trên là tranh giả, cũng như hành vi của Jean François Hubert là trắng trợn.

Nhà báo Nguyễn Trọng Chức, thành viên Hội Mỹ thuật TP HCM rất bức xúc. Ông cho rằng Jean François Hubert đã động đến “bàn thờ” của Mỹ thuật Việt Nam. “Có thể khẳng định dứt khoát bức tranh Mơ về một ngày mai là tranh giả hoàn toàn. Đó là một bức tranh chép tầm thường. Một danh họa như Tô Ngọc Vân không bao giờ vẽ như thế” – ông Chức nói.

“Ông Jean François Hubert đã có hành vi làm giả quá lộ liễu, trắng trợn, coi thường Mỹ thuật Việt Nam. Thiết nghĩ, các hội chuyên ngành, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trong lĩnh vực này nhất thiết phải lên tiếng. Không thể để các sự việc tương tự xảy ra, lặp lặp lại” – ông cho biết thêm.

Ở một góc độ khác, với vụ việc này, họa sĩ Trần Lương cho rằng nền mỹ thuật Việt Nam đang có tội với tiền nhân. Theo lời ông, do tình trạng bản quyền tại Việt Nam vẫn còn hoang dã, chế tài xử lý vi phạm bản quyền về mỹ thuật còn xa vời, nên mới có trường hợp có người đem cả bộ sưu tập tranh giả trưng bày ở bảo tàng mà chúng ta không làm gì được.

 

2 

Sách ký họa Tô Ngọc Vân: Từ thiếu nữ thành thị đến người nông dân

Nhà sưu tầm Thái Lan Tira Vanichtheeranont đã làm gì để thuyết phục ông Tô Ngọc Thành, con họa sĩ Tô Ngọc Vân, bán 380 bức ký họa của cha cho một người nước ngoài như ông? Đó là lời hứa làm một cuốn sách.

Còn chuyện làm giả tranh Việt ở nước ngoài, cá nhân tôi nghĩ, bất kì người Việt nào cũng cảm thấy đau lòng” – họa sĩ Trần Lương nói. “Giới quản lý khi biết sự việc phải tổ chức điều tra, tìm ra giải pháp. Đó mới là có trách nhiệm với mỹ thuật dân tộc”.

Ngoài ra, họa sĩ Trần Lương cũng cho rằng nhiều người tại Việt Nam đổ lỗi cho nhà đấu giá Christie không hẳn là đúng. Bởi, Christie chỉ là đơn vị kinh doanh, họ có cơ sở dữ liệu rất lớn để có thể phát hiện tranh giả. Khi họ nghi ngờ một bức tranh, họ vẫn có thể cho đấu giá, bởi đó là cơ hội để họ xác định nó là thật hay giả. Còn lại, pháp luật sẽ xử phạt rất nghiêm những kẻ đem tranh giả đến phòng tranh đấu giá”.

Họa sĩ Lương Xuân Đoàn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Mỹ thuật Việt Nam cho biết gần đây ông có trao đổi với một đồng nghiệp người Pháp, ông này rất bức xúc sao Việt Nam không giải quyết dứt điểm vụ Jean François Hubert.

“Hội Mỹ thuật Việt Nam đã gửi công văn cho Bộ VH,TT&VDL về chuyện các cá nhânnước ngoài trục lợi tranh của danh họa Việt Nam, nhưng tới nay chưa thấy phản hồi. Đây là những vụ việc lớn, rất cần có sự chủ động vào cuộc của Bộ VH,TT&DL cũng như Cục Bản quyền” – ông Đoàn nói.

 

Ngọc Diệp
Thể thao & Văn hóa

 

 

 

 

Thời nay có một chế độ Apartheid trong nghệ thuật tạo hình

Nguồn Tuổi Trẻ

 

LÊ QUANG

 

TTCT – Sự hài hòa đã biến mất trong thế kỷ đầy rẫy khủng bố hôm nay. Ta không cần nghệ thuật minh họa nữa. Thế giới này toàn cái xấu xa, mỹ thuật là nghệ thuật dối lừa…

Được một anh bạn mách cho đường link để xem catalog các tác phẩm nghệ thuật đương đại sắp được nhà Sotheby’s đem bán đấu giá từ ngày 19-5 ở New York, tôi dậy sớm, pha một ấm trà thật ngon và run rẩy cố tĩnh trí để lướt qua tác phẩm cao giá theo đúng nghĩa đen của những nghệ sĩ tên tuổi còn sống hay đã chết.

Như trà ngon phải có bạn hiền, tôi nhặt hú họa ra mấy tác phẩm để đợi hôm sau khoe với các bạn tưởng tượng của tôi:

Kishon

Vô đề- Cy Twombly

 

1) CY TWOMBLY, 1928-2011, tên thật là Edwin Parker Twombly Jr., một đại diện sáng giá của chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng (abstract expressionism) khởi thủy ở Bắc Mỹ hồi thập kỷ 1940. Tác phẩm Vô đề, màu acrylic trên vải bố. Định giá: 0,22-0,28 triệu USD.

 

Kishon

Khúc bi thương New England số 3 – Robert Motherwell

2) ROBERT MOTHERWELL, 1915-1991, bạn vong niên của Cy Twombly, họa sĩ của chủ nghĩa siêu thực (surrealism).

Khúc bi thương New England số 3, 
mực và cát trên giấy. Định giá: 1,2-1,8 triệu USD.

Kishon

Hộp Đen – Tony Smith

3) TONY SMITH, 1912-1980, nghệ sĩ tạc tượng Mỹ, được coi là người tiên phong của phong cách tối giản (minimalism).

Hộp đen, tôn không sơn. Định giá: 
0,1-0,15 triệu USD.

2

Ghế trét mỡ – Joseph Bueys

Và thưởng lãm thêm 4) JOSEPH BUEYS, 1921-1986, họa sĩ và nghệ sĩ hành động Đức. Tác phẩm Ghế trét mỡ. Định giá: không thể, vì bị nhân viên vệ sinh vô tình cho vào thùng rác, khiến bảo hiểm phải bồi thường 22.500 USD.

Xin các bạn thứ lỗi, nếu tôi nhầm tên tác phẩm hay tác giả, nhưng tôi mạo muội phỏng đoán là có nhầm cũng chẳng ai đoán ra.

Giờ ta đến với Ephraim Kishon. Ông là tác giả cuốn Cuộc báo thù ngọt ngào của Picasso về nghệ thuật hiện đại được dẫn chiếu trong bài phỏng vấn trên tạp chí Focus, số 13-11-1995.

Cũng cần nói thêm là Kishon vốn được biết đến ở tư cách nhà văn Do Thái với hàng chục triệu ấn bản được bán ra, nhưng ông không phải dân nghiệp dư trong lĩnh vực nghệ thuật.

Sinh thời, ông là nghệ nhân chế tác trang sức vàng bạc, tốt nghiệp đại học mỹ thuật với hai bằng tạo hình kim loại và phê bình nghệ thuật.

Focus: Thưa ông Kishon, trong tác phẩm mới đây ông lật mặt nạ một “tổ chức cực đoan” mang tên Nghệ thuật hiện đại, chuyên “ngu dân ở trình độ cao”. Và chắc chắn ông không định nói mỉa?

– Kishon: Tôi vốn luôn tư duy trào phúng, nhưng lần này nói chuyện nghiêm túc: ta đang bàn đến một trong những tổ chức kinh tế thành công nhất thế giới. Tôi thực sự không định công kích quá mức cần thiết những kẻ bịp bợm trắng trợn thiên tài đó ở thời đại chúng ta, nhưng một số tổ chức khủng bố hoạt động khá giống thế.

Xin ông giải thích rõ hơn.

– Có thể tôi ghen tị chăng, vì rõ ràng ta đang nói đến một lũ lừa đảo đặc biệt thông minh, biết biến mấy trò hề rẻ tiền thành một dạng tôn giáo.

Qua đó, lũ mafia nghệ thuật đã chiến thắng đầu óc tư duy lành mạnh một cách huy hoàng, và sự hỗn láo đó dần dần phá bung mọi giới hạn. Nhưng đồng thời sự ngu xuẩn của con người cũng không có giới hạn, vì vậy xuất hiện một sự cân bằng lành mạnh…

Ông cho rằng nghệ thuật tạo hình hôm nay là rác rưởi, ông dùng những khái niệm như “trại điên được bao cấp sổng sểnh”, “bãi rác”, “triển lãm những đồ bôi trét”… Nhưng có nhiều người bỏ cả triệu đôla để sở hữu chúng!?

– Thì chính thế! Qua mấy chục năm tẩy não, bọn mafia nghệ thuật đã thành công khi làm cho những người thông minh – vốn có tư duy logic ở các lĩnh vực khác – chợt thấy rối trí, và họ tự nhủ: “Có thể đó là nghệ thuật thực sự cũng nên, mình không có trình độ đánh giá, vì mình không học hành tử tế môn này”.

Và lũ nghệ sĩ hiện đại ranh giảo cũng là những kẻ thích đùa. Đôi khi quá chén, chúng còn tự thú nữa cơ. Gã nghệ sĩ vĩ đại Baselitz mới đây phát biểu: “Chẳng lẽ tôi không bán, họ trả tôi cả núi tiền cho mấy thứ này…”.

Thế thì có gì trong chuyện này đáng gọi là mafia?

– Cơ chế hoạt động! Nó giống như chủ nghĩa khủng bố có tổ chức. Các tiếng nói phê phán hầu như im bặt, mọi phòng tranh thải loại dần các tác phẩm tả chân dễ hiểu.

Hôm nay không có hội chợ nghệ thuật nào nhận một bức tranh bình thường nữa. Họa sĩ nào muốn kiếm tiền, muốn trưng bày ở Venice hay New York hoặc có chân trong một ban giám khảo, phải bước vào hàng ngũ những kẻ thành đạt, tức là phải vẽ những bức tranh tởm lợm hoặc vô nghĩa.

Ông viết trong sách, Picasso biết vẽ, Warhol ít nhất cũng nỗ lực, trong khi Joseph Beuys không thèm hạ mình làm mấy công việc hèn hạ ấy…

– Trường hợp Beuys có lẽ độc nhất vô nhị trong lịch sử nghệ thuật: ông ta trở thành nghệ sĩ nổi tiếng thế giới mà không cần tạo ra một tác phẩm nghệ thuật duy nhất nào. Hình như tôi là nhà phê bình nghệ thuật duy nhất không hiểu ông ta.

Nếu khán giả toàn bị dắt mũi, chẳng lẽ không ai ngộ ra?

– Người ta chỉ có thể tin hay không tin, chứ không thể tranh luận về tín ngưỡng. Người ta thần tượng nghệ thuật hiện đại và những nhà tiên tri ở đó, thờ phụng ông thánh Picasso. Họ ngắm cái bồn tắm trét màu của Beuys và thì thào: “Nó đang nói với tôi đó. Tôi không rõ vì sao, nhưng tôi thấy rộn rực trong lòng…”.

Còn các nhà phê bình?

– A, các lãnh tụ tinh thần? Họ viết những điều chẳng ai hiểu, có lẽ chính họ cũng chẳng hiểu. Đố ai giải thích được “sự tổng hợp rung động được tiên lượng như khoảng cách quang học đối với sự phình trướng tràn đầy giai điệu” (lời bình một tấm vải bố trắng tinh, có chữ ký ở mặt sau – chú thích của người dịch)?

Hoặc “Bề mặt tranh nổi lên như phù điêu và không cho phép ai đoán ra ý nghĩa của nó” (lời bình tranh của họa sĩ Pierre Souglases – chú thích của người dịch)? Với những lời phán ngu rực rỡ như thế, các nhà phê bình khiến người nghe hoảng sợ, bởi họ tin là mình không đủ sức mạnh tinh thần để phản biện.

Ta hãy thử đi đến một triển lãm nghệ thuật hiện đại mà quan sát những kẻ tâm thần rón rén kiễng chân di chuyển hoặc trầm mặc đứng mười lăm phút trước một vệt màu duy nhất trên nền trắng. Và… chẳng ai cười cả.

Ông hãy nhận xét những đánh giá quen thuộc về hội họa tả chân. Thứ nhất: nhiếp ảnh đã thế chỗ nó, vì ảnh chụp trung thành hơn nhiều.

– Vớ vẩn! Dalý có vẽ như ảnh không? Magritte? Hay Hieronymus Bosch? Các danh họa toàn vẽ những cảnh không có thật.

Đã bao giờ Giêsu đứng làm mẫu cho họa sĩ nào chưa? Chừng nào con người chỉ có hai mắt, tại sao có người vẽ ba mắt? (Ở một chỗ khác trong sách, Kishon viết: “Cớ gì không vẽ cho nhà giàu tranh một phụ nữ có hai mũi hoặc hai phụ nữ chung một mũi, hoặc ba bốn mắt, nếu họ muốn thế?”.

Xem các chân dung mà cụ vẽ người nhà mình thì tất cả đều là tranh tả chân, ít nhất thì ai cũng có một mũi và hai mắt. Cụ chẳng dại mà gây sự với gia đình mình – chú thích của người dịch). Chuyện đã rõ: một người bình thường sẽ nghĩ giống tôi, chỉ có điều là không ai dám mở miệng.

Thứ hai: Sự hài hòa đã biến mất trong thế kỷ đầy rẫy khủng bố hôm nay. Ta không cần nghệ thuật minh họa nữa. Thế giới này toàn cái xấu xa, mỹ thuật là nghệ thuật dối lừa…

– Thế giới này không xấu hơn, quá khứ vẫn thế. Đừng quên là những tác phẩm hội họa đẹp nhất ra đời thời tòa án giáo hội thiêu tội nhân trên giàn lửa! Còn các họa sĩ trừu tượng ngày nay không vẽ xấu, mà đơn giản là họ hoàn toàn không vẽ!

Ông nghĩ gì về những tranh vẽ thảm họa chiến tranh của Otto Dix và tranh biếm của George Grosz?

– Ai cho phép gọi hai tên đó trong cùng một câu? Họ đều là nghệ sĩ đích thực! Tranh của Grosz luôn chuyển tải một thông điệp xã hội. Nhưng thông điệp nào ẩn chứa trong cái ghế trét mỡ? Mời các vị tha hồ múa bút viết hàng trang báo về nó, nó vẫn cứ là cái ghế trét mỡ.

Thứ ba: Ai tái tạo hình thái sáng tác ngày xưa, bị coi là sến?

– Sến là gì? Mọi cái đẹp là sến?

Cũng có thể cách thể hiện tả chân đã cạn kiệt, chả có gì mới?

– Còn bôi trét kiểu trừu tượng luôn bất ngờ chứ gì? Liên tục có trường phái mới như phong trào kiến tạo (constructivism), chủ nghĩa siêu việt (suprematism), phong cách tối giản (minimalism) – và tất cả giống nhau ở chỗ vô nghĩa. Nhưng ta hãy tự hỏi đi, vì sao Raffael, Rubens hay Toulouse-Lautrec vẫn được thán phục cho đến hôm nay?

Đó là “gu” chăng? Hay là cả ngành nghệ thuật tạo hình đã chết, giống như siêu hình học?

– Nếu quả thực thế thì nó bị sát hại. Thời nay có một chế độ Apartheid trong nghệ thuật tạo hình. Giá mà các phòng tranh treo một nửa là tranh trừu tượng, nửa kia tranh tả chân… Nhưng không, họ tẩy chay các họa sĩ thực sự.

Ông viết tội lỗi lớn nhất của nghệ thuật hiện tại là khinh rẻ khán giả. Vậy thì, đáng đời những kẻ xuýt xoa khen ngợi bức tranh mà họ không hiểu?

– Nói thế thì không khác gì nói nhân dân xứng đáng bị một bạo chúa trị vì. Không, nhân dân xứng đáng hưởng một nền nghệ thuật tốt hơn.

Chế độ phát xít cũng đàn áp nghệ thuật trừu tượng. Ông không ngại có sự liên tưởng…

– Hoàn toàn không. Chế độ phát xít đàn áp nghệ thuật hiện đại, không có nghĩa là làm nó tự khắc mang tính tích cực. Tôi không thể xây dựng quan điểm của mình bằng cách so sánh với thời quốc xã. Tôi sẽ không hút thuốc lá chỉ vì Hitler ghét thuốc lá.

Trong truyện cổ tích Hoàng đế cởi truồng mọi người phá lên cười khi một thằng cu kêu: “Ông kia cởi truồng kìa!”. Ông không ngạc nhiên là chuyện đó không xảy ra trong giới nghệ thuật hiện đại?

– Tôi rất ngạc nhiên. Chính vì thế tôi viết cuốn sách này. Nghệ thuật hiện đại là sự lăng nhục đối với tri thức của tôi. Do đó tôi tìm cách thủ vai thằng cu kia.

Vợ ông là chủ một phòng tranh nghệ thuật, bán tranh hiện đại ở Tel Aviv…

– Vợ chồng không nhất thiết chia sẻ mọi quan điểm. Vợ tôi không ưa cuốn sách này, bà ấy kêu là tôi đi quá trớn. Tôi thì thấy nghệ thuật hiện đại mới là quá trớn.■

Talk Vietnam: Suzanne Lecht – Người đưa nghệ thuật đương đại Việt Nam đến với thế giới

Talk Vietnam với nội dung: Suzanne Lecht – Người đưa nghệ thuật đương đại Việt Nam đến với thế giới.

Xem Video click on link:

Suzanne Lecht – Người đưa nghệ thuật đương đại Việt Nam đến với thế giới

Đấu giá tranh Lê Phổ

Posted: Tháng Tư 4, 2017 in Trang Chủ

HoasiLePho

Mừng hay lo khi tranh Việt vượt ‘tuổi dậy thì’?

 

Vào 17h30 ngày 2/4 tại phiên đấu Modern and Contemporary Art của nhà Sotheby’s ở Hong Kong (Trung Quốc), tác phẩmFamily Life (Đời sống gia đình) của Lê Phổ đã được bán với giá 1.172.080 USD, cao gấp 3 lần giá dự kiến. Đây sẽ là cột mốc lớn trong lịch sử của mỹ thuật Việt Nam.

 

Theo quy ước ngầm của thị trường quốc tế, chỉ khi nào một nền mỹ thuật có tác phẩm bán từ 1 triệu USD trở lên thì nền mỹ thuật ấy mới chính thức bước qua “tuổi dậy thì” để trưởng thành. Cột mốc này như là bảo chứng đầu tiên để nhiều nhà sưu tập có thể yên tâm hơn khi bỏ số tiền lớn cho lĩnh vực được gọi là “đầu tư mạo hiểm”. Nó cũng tương tự như chỉ số tăng trưởng tích cực của chứng khoán luôn kèm theo sự thu hút việc đầu cơ.

Có câu hỏi được đặt ra: Nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam khá liên tục và phong phú, chẳng lẽ chưa có một tác phẩm nào bán hơn 1 triệu USD? Nếu đi vào những giao dịch ngầm, những tác phẩm của Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Phan Chánh… được bán trên 1 triệu USD là bình thường. Nhưng ở đây chỉ xét những giá trị công khai, kiểu “miếng giữa làng bằng sàng xó bếp”.

 

 

FamilyLife_LePho
Tác phẩm “Family Life” (Đời sống gia đình) của Lê Phổ đã bán với mức giá hơn 1,1 triệu USD

Tình trạng dấm dúi, bịp bợm, thiếu minh bạch trong mỹ thuật Việt đã liên tục diễn ra trong hơn 30 năm qua, và chắc chắn còn kéo dài khá lâu. Tại sao vậy? Vì ở đây liên quan đến nạn tranh giả tranh nhái, liên quan đến cá độ, bài bạc, trốn thuế, lợi ích nhóm… Nói chung các tổ chức tài chính đen này không muốn và gần như không thể công khai các hoạt động buôn bán mỹ thuật của mình, nhưng lợi nhuận thì vẫn còn đó, nên càng duy trì tình trạng dấm dúi.

Cũng có câu hỏi: Giá bán cao nhất vậy là tác phẩm đẹp nhất? Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng vẻ đẹp thực thụ của tác phẩm và giá bán công khai trên thị trường đôi khi không song hành với nhau. Ví dụ tác phẩm có giá trị mỹ thuật tốt nhất của Lê Phổ chưa hẳn là tác phẩm có giá bán cao nhất; cũng như Family Life không phải là tác phẩm đẹp nhất của Lê Phổ. Nhiều họa sĩ suốt một thời gian dài không bán được tranh không phải vì tác phẩm họ kém nghệ thuật. Điều này cũng đúng với quy luật chung của thị trường nghệ thuật thế giới.

Thẳng thắn nhìn nhận, so với các họa sĩ thời kỳ đầu và xét trong lịch sử mỹ thuật hiện đại Việt Nam, tác phẩm của Lê Phổ không thể ở 3-4 vị trí đầu tiên. Cho nên việc tác phẩm Lê Phổ đang dẫn đầu nên nhìn ở khía cạnh khác, nó cho thấy sự minh bạch tương đối về nguồn gốc, xuất xứ, và đã quen mặt tại các phiên đấu giá quốc tế. Trong khi các họa sĩ tài năng khác ở trong nước thì bị nạn tranh giả tranh nhái làm mất niềm tin, nên khó thu hút người mua, dù giá trị nghệ thuật có thể cao hơn.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng mua nghệ thuật giá cao là một cách “khẳng định đẳng cấp”, một cách “đổi tiền ăn lãi suất hấp dẫn”, chứ chưa hẳn vì giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

Cho nên, việc Lê Phổ giúp tranh Việt vượt “tuổi dậy thì” là nên mừng hay lo?

Mừng là từ nay vị thế của tranh Việt nói chung bớt lép vế, thu hút thêm các nhà đầu tư mới. Còn lo thì rất nhiều, bởi nạn tranh giả tranh nhái và tình trạng dấm dúi sẽ nương vào đây phá nát thị trường và niềm tin nhiều hơn nữa.

 

Vô Ưu

 

 

ĐẤU GIÁ TRANH VIETNAM

Posted: Tháng Tư 4, 2017 in Trang Chủ

Bán Đấu Giá Tranh Việtnam

 

Phiên đấu Modern and Contemporary Southeast Asian Art của nhà Sotheby’s Hong Kong khai mạc từ lúc 10h ngày 3/4, nhiều người vui vì đa số tranh Việt tăng giá tích cực.

Phiên đấu giới thiệu trong 172 lot (lô), trong đó có gần 40 lô của Việt Nam, hoặc liên quan trực tiếp đến Việt Nam, gần 30/40 lô bán được giá cao hơn dự kiến. Đây là một tín hiệu rất tích cực, vì lâu nay nhà đấu giá này cũng hơi kiêng dè các tác phẩm của Việt Nam, vì nạn giả và nhái hoành hành.

 

Composition-De-Fleurs-169

Tác phẩm “Hoa tươi” của Lê Phổ bán được bán 148.120 USD

 

Tiêu điểm của phiên đấu này đương nhiên thuộc về Lê Phổ, không chỉ vì ông có nhiều tác phẩm, giá dự kiến cao, mà còn ở khả năng tạo sự bất ngờ lớn. Tất cả những tác phẩm được bán của ông đều cao hơn mức dự kiến tối thiểu, vài bức vượt dự kiến tối đa đến nhiều lần.

Các tác phẩm thu hút của Lê Phổ gồm: Composition De Fleurs (Hoa tươi), dự kiến từ 103.040 đến 193.200 USD, kết quả bán 148.120 USD – cao hơn mức dự kiến tối thiểu; Jeunes Filles Au Bouquet De Tulipes (Thiếu nữ bên hoa tu-líp) dự kiến 33.488 đến 48.944 USD, bán 88.550 USD; La Cueillette (Hái quả) dự kiến 36.064 đến 48.944 USD, bán 67.620 USD.

 

MaternityAndTheSea

Tác phẩm “Vọng phu biển” của Nguyễn Trung

 

Bất ngờ của phiên này còn có thể kể đến tác phẩm Maternity And The Sea (Vọng phu biển) của Nguyễn Trung, với dự kiến từ 15.456 đến 23.184 USD, kết quả gõ búa 35.420 USD. Bất ngờ vì Nguyễn Trung sinh năm 1940 tại Sóc Trăng, hiện sống ở TP.HCM, dòng tranh này được ông vẽ thường xuyên, số lượng lớn, nhiều người vẫn nghĩ giá phải thấp hơn 15.000 USD.

 

Rapid-Of-Cho-Bo-On-The-Black-River

Tác phẩm “Lướt thuyền trên Thác Bờ sông Đà” của Nguyễn Văn Tỵ

Một bất ngờ nữa là tác phẩm Rapid Of Cho Bo On The Black River (có lẽ tiếng Anh viết nhầm chữ Cho Bo, nên tạm dịch: Lướt thuyền trên Thác Bờ sông Đà) của Nguyễn Văn Tỵ (1917 – 1992) có giá dự kiến từ 45.080 đến 57.960 USD, gõ búa bán đến 112.700 USD.

Nhìn ở khía cạnh lịch sử chất liệu, tác phẩm sơn mài trên vóc này (gồm 8 tấm, với tổng kích thước 95,5 cm x 250 cm, sáng tác năm 1943) có sự hoàn chỉnh đáng ngưỡng mộ.

Văn Bảy

Quần thể tượng ở Thánh Địa La Vang

Hà Vũ Trọng

tặng QN, nhớ những ngày bên dòng Thạch Hãn

1

Toàn cảnh công trường Mân côi

Tâm thức thờ Mẫu hay Mẹ Cả dưới vô vàn hình thức đã có trong mọi nền văn hoá qua hàng chục ngàn năm nay. Điển hình là việc sùng bái các di tích Thánh Mẫu Maria trên thế giới đã trở thành tâm điểm hành hương của tín đồ Thiên Chúa giáo, như Lourdre (Pháp), Fatima (Bồ Đào Nha), Plaza del Pilar (Tây Ban Nha), Guadalupe (Mexico),v.v… Ở Việt Nam, cách thị xã Quảng Trị vài cây số, ở huyện Hải Lăng, từ ngoài quốc lộ 1 đi vào khoảng hai cây số sẽ gặp La Vang là một di tích lịch sử độc đáo, từ lâu đã trở thành thánh địa hành hương quan trọng nhất của người Công giáo Việt Nam. Vào cuối thế kỉ 18, với chiếu chỉ cấm đạo dưới triều vua Cảnh Thịnh, người Công giáo lánh nạn tại nơi đây, họ đã tin rằng hình tượng người đàn bà bồng con hiện ra che chở mà họ thấy chính là Đức Mẹ hiển linh. Ngày nay, hàng năm La Vang có hơn nửa triệu người về hành hương và đã tạo thành truyền thống cứ ba năm hành hương thì có một Đại hội. Đền Thờ La Vang vốn tồn tại được 44 năm (1928 – 1972) thì chiến cuộc năm 1972 đã gây nên tổn thất vô cùng nặng nề, nay chỉ còn di tích tháp chuông loang lổ bom đạn. 

2

Di tích tháp chuông giáo đường La Vang

Giai đoạn kiến thiết quan trọng của La Vang xảy ra vào năm 1961–63, khởi đầu từ quyết định của hội đồng Giám mục miền Nam công nhận La Vang là Trung tâm Thánh Mẫu Toàn quốc. Và từ cấp Đền thờ La Vang được Toà thánh Vatican chấp thuận nâng lên thành Vương cung thánh đường (Basilica). Giai đoạn kiến thiết này mang tính giải cấu trúc những khuôn mẫu nặng tính phương Tây của các cố đạo Pháp thời trước, để hướng tới những chủ đề và cấu trúc biểu tượng mang ý nghĩa văn hoá bản địa. Về mặt đồ án có sự đóng góp của các nhà chuyên môn danh tiếng thời ấy, như kiến trúc sư Ngô Viết Thụ với đồ án linh đài ba cây đa nhân tạo (bằng bê tông cốt thép), cao tới 21 mét nằm trên ngọn đồi đá hình đa giác với những bậc thềm bằng đá dẫn lên để tín đồ đứng cầu nguyện, tái tạo cảnh quang dựa theo lời truyền tụng “Đức Mẹ hiện ra trên đám cỏ, dưới gốc cây đa”. Dưới chính giữa đài là bàn thờ bằng đá cẩm thạch Ngũ Hành Sơn và mẫu tượng Đức bà ban ơn ngự trên cao giữa chính điện. Tuy nhiên, linh đài ba cây đa này được khởi công vừa xong phần bê tông cốt thép, chưa có phần trang trí mỹ thuật bên ngoài thì bị đình đốn do biến cố ngày 01.11.1963 xảy ra. Hơn 40 năm qua, linh đài vẫn tồn tại nguyên trạng ban đầu.

Bài viết này và ảnh chụp đặc biệt nhấn mạnh vào nhóm tượng 15 Mầu nhiệm trên Công trường Mân côi, có thể xem là quần thể điêu khắc quy mô có giá trị vào bậc nhất trong lịch sử nghệ thuật hiện đại ở Việt Nam.

Trong cuộc tái thiết đền thờ La Vang, quần thể tượng ở thánh địa này là công trình sáng tạo của điêu khắc gia Lê Ngọc Huệ (còn gọi là Bernard Huệ, sinh năm 1936 ở Huế) cùng với sự cộng tác đắc lực của người học trò tài ba của ông là Mai Chửng. Khi ấy Lê Ngọc Huệ đang là giáo sư trường Cao Đẳng Mĩ thuật Huế và mới tốt nghiệp trường Cao đẳng Mĩ thuật Montpeller từ Pháp về vào năm 1961, ông đã thổi một luồng gió mới của chủ nghĩa  hiện đại vào điêu khắc Việt Nam. Quần thể tượng này được thực hiện từ năm 1961-62, gồm 15 pho đặt trên bệ, chất liệu tổng hợp từ xi măng trắng, nằm dọc cân xứng hai bên đường lát đá và rải thảm cỏ từ cổng tam quan đi vào trong khuôn viên Công trường Mân côi. Diện tích công trường 30 x 480 mét. Khuôn viên này dẫn đến đền thờ và lễ đài ngoài trời, cũng là hình ảnh thu nhỏ của đàn tế Nam giao ở Huế.

Trong Mùa Hè Đỏ lửa 1972, Công trường Mân côi cũng bị bom đạn cày xới lỗ chỗ, một số bức tượng trong quần thể 15 Mầu nhiệm bị tan nát hoặc bị sứt mẻ trầm trọng. Chỉ còn ba cây đa nhân tạo nơi đài Đức Mẹ là vẫn đứng vững, nguyên vẹn. Dấu tích hoang tàn kéo dài đến năm 1975. Và từ năm 1995, Công trường Mân Côi đã được tái thiết hầu như nguyên trạng ban đầu với thành rào bao quanh, sân cỏ, trồng cây, đèn cao áp, lối đi cũng là lộ trình kiệu được lát gạch chạy thẳng từ cổng tam quan đến lễ đài, và điều đáng kể là các pho tượng mầu nhiệm Mân Côi bị hư hại cũng đã được phục chế.

Chủ đề 15 pho tượng của Lê Ngọc Huệ tương ứng với sự chiêm ngắm 15 Mầu nhiệm Mân côi gồm: Năm sự Vui, Năm sự Thương, và Năm sự Mừng. Chủ đề này đặc biệt thích hợp cho thánh địa sùng bái Thánh Mẫu nếu so với chủ đề thường lệ thấy trong hầu hết khuôn viên của các nhà thờ là “14 đàng ngắm Thánh giá”. Mân côi (Rosary) nghĩa là “vòng hoa hồng”, mỗi lời kinh Kính mừng hay Ave Maria như một đoá hồng đẹp xinh sẽ kết thành một lẵng hoa hay vương miện hoa hồng dâng lên Đức Mẹ. Đọc kinh Kính mừng là sự chiêm nghiệm theo trình tự những mầu nhiệm hay sự kiện chính trong cuộc đời, sự thương khó, cái chết, và vinh quang của Chúa Giêsu và sự tham dự của Mẹ ngài là Maria.   

Về mặt nghệ thuật, nhóm tượng La Vang lần đầu tiên mang phong cách hiện đại trừu tượng vào nền điêu khắc Việt Nam một cách quy mô, ở đây là sự kết hợp những khối hình học được tinh giản và cách điệu hoá, đạt tới mức vừa trừu tượng vừa cụ tượng (representational), cũng là trào lưu của nghệ thuật hiện đại phương Tây trở về tái tạo nghệ thuật nguyên thuỷ của các nền văn hoá thế giới. Quần thể tượng chủ ý vẫn giữ tính tượng trưng và gợi ý để gần gũi với quan chúng hơn và với tín đồ chiêm ngắm khi hành hương. Vì thế, chúng không thể nào thực hiện tới mức trừu tượng “thuần tuý” như tác phẩm của các nhà điêu khắc bậc thầy như Brancusi, Henry Moore và Barbara Hepworth đã đạt tới trong tác phẩm của họ. Điều đáng kể ở đây, không chỉ có sự cách điệu hình khối, Lê Ngọc Huệ đã nỗ lực đem đường nét vào trong điêu khắc để tạo hiệu quả bóng sáng tối giữa các mảng hoặc khối với tiết điệu đầy thi vị, vừa như phương tiện dẫn dắt thị giác tập trung vào ý nghĩa hàm súc trong từng pho tượng khi chiêm ngắm.   

Trong kinh nguyện Mân côi đọc mỗi ngày, 15 mầu nhiệm được chia thành 3 bộ, mỗi bộ trong đó lại có 5 đề tài khác nhau để chiêm nghiệm (mỗi đề tài được đọc bằng mười bài kinh Kính mừng). Để bổ sung vào những mầu nhiệm chiêm ngắm này, trong đó người ta lại phối hợp chúng với các đức tính gương mẫu với từng mầu nhiệm (như tính khiêm nhường, bác ái, nghèo khó, thanh sạch…). Dựa vào đó, mỗi “bộ” về hình thể điêu khắc súc tích được cái ý tưởng cốt yếu của từng đề tài:

  1. Năm sự vui(Hình 1–5): Chiêm ngắm những khoảnh khắc trong đời Đức Mẹ Maria, đây là những đề tài giàu cảm xúc và thân thiết, như trong cảnh thiên thần truyền tin hoặc tình cảm giữa người nữ với nhau, việc sinh đẻ, tình mẹ con. Điêu khắc chủ yếu dùng những bố cục và đường nét cong đầy nữ tính, hình khối tròn mềm mại hài hoà khi vận dụng đường uốn lượn nhịp nhàng của cử động và y phục.
  2. Năm sự thương(Hình 6–10): loạt tượng này chủ yếu dùng những mẫu khối hình học lập thể táo bạo và mãnh liệt thật thích hợp để diễn tả nỗi khắc khoải và thống khổ vừa trong nội tâm và thể xác của Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn, như cảnh cầu nguyện trong vườn cây dầu, cảnh thụ hình và chịu đóng đinh.
  3. Năm sự mừng(Hình 11–15) là những đề tài hân hoan, thăng hoa và tôn vinh. Hình khối điêu khắc từ đây ít tính khắc khổ, ngoại trừ pho “Chúa Giêsu sống lại” vẫn giữ phong cách lập thể và biểu hiện để thống nhất với Năm sự Thương, các pho còn lại trở về với hình khối mang tính tượng trưng với đường nét tròn đầy của nữ tính để diễn tả trạng thái viên mãn, nhất là với các bức thể hiện Đức Mẹ.

Cần nhắc lại, Lê Ngọc Huệ từng ở trong uỷ ban chuyên môn về mĩ thuật trong cuộc Triển lãm Mĩ thuật đệ I, gồm 22 quốc gia, tổ chức tại công viên Tao Đàn ở Sài Gòn vào tháng 10 năm 1962. Tại cuộc triển lãm này, Lê Ngọc Huệ và Điềm Phùng Thị là hai nhà điêu khắc quan trọng nhất của Việt Nam tham dự tác phẩm. Cả hai ngẫu nhiên trùng phùng qua hình tượng trụ cột tâm linh hướng tới những khát vọng hoà bình, gia đình và tổ tiên: Lê Ngọc Huệ với “Trụ cột hòa bình”, Điềm Phùng Thị với “Trụ thần vật”, ví như những trụ vật tổ (totem poles) hay trụ tượng nhà mồ Tây Nguyên ngày đêm đứng canh giữ giữa cõi sống và cõi bên kia là nơi cư ngụ của tổ tiên. Chúng ta hầu như không có thông tin về hoạt động nghệ thuật của nhà điêu khắc Lê Ngọc Huệ kể từ sau biến cố đảo chánh Ngô Đình Diệm năm 1963; ông đã sang Pháp sau đó.

Tác phẩm của Lê Ngọc Huệ để lại cho đời tuy chỉ trong một giai đoạn ngắn nhưng sẽ còn toả sáng lâu dài vì mang những giá trị tâm linh thể nghiệm đạo đức Ki-tô giáo và mĩ học đương đại. Quần thể tượng là 15 đoá hồng mầu nhiệm – rosa mystica – chất chứa nhiều trạng thái cảm xúc từ bi tráng đến thăng hoa của con người vượt cảnh giới thế tục qua sự cứu chuộc của tôn giáo và nghệ thuật, và nằm trong một không gian và thời gian kết tinh của tâm linh qua những thăng trầm của lịch sử. Do vậy, không phải tình cờ mà Quảng Trị là nơi 21 năm phân cách hai miền Nam-Bắc với vĩ  tuyến 17; nơi có dòng sông Thạch Hãn đẫm “mồ hôi của đá”; nơi trải qua nhiều tang thương của hơn 200 năm phân tranh Trịnh-Nguyễn, “Mẹ thương con ra cầu Ái Tử”; nơi được mệnh danh là “con đường buồn thiu” trong chiến tranh 1946-54; và cuối cùng là nơi gánh chịu điêu tàn nhất của thời 1960-75 với “Đại lộ kinh hoàng” và với cổ thành không còn viên gạch nào nằm trên viên gạch nào, lại trở thành nơi kết tụ tinh hoa của những thăng hoa nghệ thuật.

*

Nhóm tượng 15 mầu nhiệm Mân côi ở La Vang
( Tác phẩm điêu khắc của điêu khắc gia : Lê Ngọc Huệ )

NĂM SỰ VUI

  1. Thiên Thần truyền tin cho Đức Mẹ chịu thai. 

    3

  1. Đức Mẹ đi viếng bà thánh Isave 

    4

  1. Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu. 

    5

  1. Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào đền thánh. 

    6

  1. Đức Mẹ tìm được Chúa Giêsu trong đền thánh. 

    7

NĂM SỰ THƯƠNG

  1. Chúa Giêsu cầu nguyện trong Vườn Cây Dầu. 

    8

  1. Chúa Giêsu chịu đánh đòn. 

    9

  1. Chúa Giêsu chịu đội mão gai. 

    10

  1. Chúa Giêsu chịu vác thánh giá. 

    11

  1. Chúa Giêsu chịu chết trên cây thánh giá. 

    12

 

NĂM SỰ MỪNG

  1. Chúa Giêsu sống lại. 

    13

  1. Chúa Giêsu lên trời. 

    14

  1. Chúa Thánh Thần hiện xuống. 

    15

  1. Đức Mẹ hồn xác lên trời. 

    16

15. Đức Mẹ được tôn vinh trên trời

 

17

 

Hà Vũ Trọng